Quán chiếu về cái giận

(Kinh: Bốn lãnh vực quán niệm – sách Con đường chuyển hóa – Thích Nhất Hạnh)

Bài tập thứ mười bốn: bài tập này là phép quán chiếu về cái giận. Điều phục được cái giận của mình là một thành công lớn trên con đường tu tập. Kinh dạy khi cái giận phát sinh, mình biết là cái giận đang phát sinh, khi cái giận có mặt, mình biết là cái giận đang có mặt, khi cái giận bắt đầu dịu xuống mình biết là cái giận bắt đầu dịu xuống, khi cái giận không có mặt, mình biết là cái giận không có mặt. Nhận diện sự có mặt và sự vắng mặt của cái giận trong ta đem tới nhiều lợi ích. Cố nhiên là để cho công trình quán chiếu được chín chắn, ta có thể phối hợp nó với hơi thở có ý thức.

Ích lợi thứ nhất là thấy được rằng khi cái giận không có mặt thì ta có hạnh phúc hơn khi nó có mặt rất nhiều. Cái giận là những ngọn lửa bừng cháy, nó thiêu đốt tâm can ta, nó làm cho ta khổ não, nó khiến cho ta nói nghĩ và làm những điều mà ta sẽ hối hận khi cái giận đã đi qua. Cái giận đặt ta vào địa ngục và những thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp mà ta làm ra trong khi giận còn tiếp tục đưa ta về địa ngục dài dài. Địa ngục A Tỳ đâu chưa thấy nhưng ta có thể thấy rõ ràng rằng người đang giận đang sống thật sự trong một thứ hoả ngục. Sân hận và căm thù là chất liệu của thứ hoả ngục ấy.

Tâm ý vô sân cũng là một trong mười một tâm sở thiện. Vô sân là sự vắng mặt của giận dữ và căm thù. Vô sân là sự mát mẻ và khoẻ khoắn. Vô sân là nền tảng của từ và bi. Sự phát triển của tâm sở vô sân đưa tới từ và bi.

Ích lợi thứ hai là khi nhận diện được cái giận của ta thì cái giận ấy mất đi tính cách tác hại của nó. Chỉ khi nào giận mà không biết và không quán chiếu về cái giận của mình, thì cái giận ấy mới tha hồ tác hại. “Tôi đang thở vào và biết là cái giận đã phát sinh trong tôi” “tôi đang thở ra và biết rằng tôi đang là cái giận”.

Khi cái giận phát sinh nơi ta, ta hãy nắm lấy hơi thở để nhận diện nó và quán chiếu nó. Làm được như thế tức là ta đã làm phát sinh chánh niệm trong ta. Lúc đó, cái giận không còn độc chiếm ý thức ta nữa. Bên cái giận còn có chánh niệm. “Tôi biết là tôi đang giận”, chánh niệm ấy được phát khởi để cùng có mặt với cái giận, để bảo trợ cái giận. Chánh niệm không có chủ đích đàn áp hay xua đuổi cái giận. Đây là một nguyên tắc quan trọng vô cùng trong phép thiền tập, (xin xem lại bài tập thứ mười hai, trong đó có nói tới hai nguyên tắc bất nhị và bất bạo động). Chánh niệm như một cây đèn để soi sáng, chánh niệm không phải là một vị quan toà xét xử. Chánh niệm soi sáng cái giận, bảo trợ cái giận, săn sóc cái giận một cách ưu ái như một người chị săn sóc vỗ về một đứa em nhỏ. Trong đạo Bụt, ta học rằng con người là một hợp thể của năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Cái giận của ta là một tâm sở thuộc hành, đồng thời nó làm phát sinh một khổ thọ thuộc thọ. Cái giận của ta chính là ta lúc đó. Đàn áp cái giận tức là tự đàn áp mình, xua đuổi cái giận tức là tự xua đuổi mình, làm như thế ta chỉ tạo thêm mâu thuẩn và đè nén trong ta. Khi ta vui, ta là cái vui, khi ta giận, ta là cái giận, khi ta yêu, ta là cái yêu, khi ta ghét, ta là cái ghét. Khi cái giận phát sinh, ta ý thức được cái giận là một vùng năng lượng trong ta, và ta có thể chuyển hoá năng lượng này thành một thứ năng lượng khác. Muốn chuyển hoá, ta phải biết chấp nhận nó. Ví dụ ta có một thùng rác hữu cơ vừa bẩn vừa hôi, nhưng ta biết ta có thể biến thùng rác này thành ra phân xanh (compost) để trồng hoa, nghĩa là ta có thể biến rác rến thành những bông hồng. Mới nhìn thì ta thấy rác với hoa là hai thực thể riêng biệt và chống đối nhau nhưng nhìn sâu thì ta thấy trong rác có hoa và trong hoa có rác. Bông hoa thơm tho và sạch sẽ kia cũng chứa đựng rác trong tự thân nó, khi nhìn kỹ ta thấy điều đó. Chỉ cần một tuần lễ là hoa biến thành rác. Thùng rác hôi hám kia cũng chứa đựng những bông hoa và những cây rau quế, rau ngò thơm tho. Người làm vườn quen làm phân xanh mỗi khi nhìn vào rác có thể thấy được ngay điều đó, cho nên ông ta không hất hủi và gớm ghiếc thùng rác. Trái lại ông ta trân quý thùng rác và không có ý kỳ thị nó. Chỉ cần thời gian một vài tháng, ông ta có thể biến thùng rác ấy thành rau thơm hoặc những bông hoa. Đối với cái buồn cái giận trong ta, ta cũng nên có cái nhìn và thái độ bất nhị của người làm vườn đối với bông hoa và thùng rác. Ta không sợ hãi và ruồng bỏ cái giận của ta. Ta biết nó là một thứ rác, nhưng ta cũng biết rằng ta có thể chuyển hoá nó. Ta cần nó như người làm vườn cần phân xanh. Biết chấp nhận cái giận của ta là ta đã bắt đầu có an lạc rồi. Từ từ ta sẽ chuyển hoá nó. Khi tâm sở giận phát hiện những tâm sở khác vẫn đang nằm tiềm phục trong chiều sâu của tâm thức ta. Chiều sâu đó, Duy thức học gọi là thức Alaya. Cái vui, cái buồn, cái yêu, cái ghét cũng có mặt trong ta lúc ta giận, nhưng chúng đang nép phục trong thức Alaya như những chủng tử (bija). Chỉ có giận là đang được phát khởi trên bình diện ý thức lúc đó. Nếu ta để cái giận hoành hành một mình thì nó sẽ gây nhiều đổ vỡ bên trong cũng như bên ngoài. Phát khởi chánh niệm tức là làm phát hiện tâm sở niệm (smrti) lúc ấy còn tiềm phục trong Alaya để nó trở thành người bạn đồng hành của tâm sở sân. Nếu ta theo dõi hơi thở, và bảo trợ cái giận của ta bằng chánh niệm thì tình trạng sẽ trở nên an toàn. Tuy cái giận còn đó, nhưng nó không đủ sức tác hại nữa. Nếư ta tiếp tục duy trì chánh niệm thì cái giận sẽ biến thể từ từ.

Ngay khi chánh niệm mới phát sinh, cái giận đã chịu ảnh hưởng (của chánh niệm) rồi. Chánh niệm như một ngọn đèn soi sáng, ta vừa mang đèn vào phòng thì đã có sự đổi thay trong phòng. Dưới ảnh hưởng của ánh sáng chánh niệm, cái giận bắt đầu biến thể. Khi mặt trời lên, ánh sáng mặt trời chỉ cần chiếu vào cây cỏ và vạn vật thôi và cây cỏ và vạn vật đều chuyển biến, nghĩa là đều phát triển và trở thành. Ánh sáng mặt trời dường như không làm gì hết nhưng quả thật nó làm rất nhiều. Dưới ảnh hưởng của mặt trời, cây cối làm ra chất lục diệp tố, màu xanh của cây cỏ chính là do mặt trời làm ra vậy. cây cỏ sinh trưởng thì các loài động vật mới có thực phẩm để sống còn. Bông hoa còn búp nhưng nếu mặt trời tiếp tục soi chiếu vào nó thì bông hoa sẽ nở. Ánh sáng mặt trời đi vào trong bông hoa, những quang tử (photons) ấy làm chuyển đổi bông hoa và khiến cho bông hoa xoè cánh. Chánh niệm của ta cũng có tác dụng tương tợ như ánh sáng mặt trời. Nếu ta kiên trì đem ánh sáng chánh niệm soi rọi vào các tâm tư ta thì các tâm tư ấy sẽ chuyển đổi và biến thể.

Cũng nhờ chánh niệm soi sáng nên sau một hồi quán chiếu ta thấy được gốc rễ cái giận của ta. Thiền quán là nhìn sâu vào mọi vật để thấy được tự tính của mọi vật. Tự tính của vạn vật là nhân duyên, nghĩa là những gốc rễ gần và xa đã đưa tới sự có mặt của mỗi sự vật. Nhìn vào tự tính của cái giận ta có thể thấy được những gốc rễ của nó như sự hiểu lầm (vô minh), sự vụng về, hoàn cảnh xã hội, ẩn ức tâm lý, tập tục hay điều kiện giáo dục… Những gốc rễ này có thể vừa có mặt trong ta vừa có mặt trong người, chúng đã đóng một vai trò tăng thượng duyên để cho cái giận phát sinh. Quán chiếu để thấy và để hiểu. Thấy và hiểu là những yếu tố giải phóng cho ta ra khỏi cái khổ bức bách của sự giận hờn. Thấy và hiểu đưa lại tâm từ và tâm bi, vốn là những giọt nước cam lộ làm mát dịu tâm hồn ta. Cái giận của ta, như ta đã biết, là một vùng năng lượng. Nhờ quán chiếu, ta thấy và hiểu được những cội nguồn của nó và ta chuyển năng lượng ấy thành năng lượng từ bi, một thứ năng lượng có tác dụng xây dựng và hàn gắn. Thấy và hiểu ta mới làm bật tung được gốc rễ của cái giận và khiến cho cái giận ấy không còn phát sinh nữa. Thường thường khi giận người, ta nghĩ, nói và làm những điều có tính cách gây đổ vỡ và thương tích trên kẻ khác và trên cả chính bản thân mình. Có người nói làm như vậy là để tiết hận, nghĩa là để giải toả bớt cái vùng năng lượng giận đang thiêu đốt tâm can ta. La mắng, đập phá, bắn cho nhau những mũi tên độc của ngôn ngữ, v.v… đều là những phương pháp tiết hận nguy hiểm. Có người muốn dùng những phương pháp “an toàn” hơn như vào phòng, đóng cửa lại, và dùng hết sức lực mình mà đánh trên một cái gối cho đến khi mệt nhoài. Cái cách đập gối này hiện có nhiều người đang xử dụng, nhiều nhà tâm lý trị liệu cũng cho bệnh nhân của họ áp dụng phương pháp đó. Cố nhiên sau khi đập gối đến mệt nhoài thì cái giận dịu xuống, và lúc bấy giờ người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn (cái mệt thì dễ chịu hơn cái giận). Tuy nhiên, gốc rễ của cái giận vẫn còn nguyên vẹn, và nếu gặp điều kiện thuận lợi, nó lại làm phát hiện ra những vùng năng lượng giận dữ khác. Cho nên phương pháp quán chiếu để thấy và hiểu được gốc rễ của cái giận mới là phương pháp có hiệu lực lâu dài.

Như ta đã biết, khi cái giận phát khởi, việc đầu tiên ta nên làm là trở về với hơi thở để bảo trợ cái giận của ta bằng chánh niệm. Ta tập trung tâm ý vào hơi thở để duy trì chánh niệm ấy. Ta đừng nghe và đừng nhìn vào người mà ta cho là nguồn gốc cái giận của ta nữa.Khi giận, ta có khuynh hướng không chịu trở về chăm sóc chữa trị cho cái giận của ta mà lại cứ muốn nghĩ đến người đã và đang làm cho ta giận, nghĩ đến những cái dễ ghét của người ấy, nghĩ đến những thô lỗ, xấu xa, tàn bạo, bất nhân, ác độc, v.v . . . của người ấy. Càng nghĩ tới, càng nghe và càng nhìn người ấy, ta càng làm cho cái giận của ta cháy lên phừng phừng. Những cái xấu xa và dễ ghét của người kia có thể hoặc có thật, hoặc do ta tưởng tượng ra, hoặc do ta phóng đại thêm lên, nhưng vì ta đang giận cho nên ta mới để ý tới những cái đó. Đúng ra vấn đề gốc của ta là cái giận trong ta, ta phải trở về lo lắng cho nó trước đã, ta phải làm như người chữa cháy, trở về tưới nước lên đám cháy mà đừng mất công đi tìm kẻ đốt nhà để lên án. “Tôi đang thở vào và biết rằng tôi đang giận” “tôi đang thở ra và biết rằng tôi phải dồn hết tâm ý tôi lại để chăm sóc cái giận của tôi. “Không nghe, không nhìn, không nghĩ về người kia (hoặc những người kia), không nói và không làm gì cả trong lúc giận, đó là để chú hết tâm ý vào việc quán chiếu cái giận của mình và cũng để tránh gây những đỗ vỡ mà mình sẽ hối tiếc sau này.

Ta nên mở cửa đi ra ngoài trời để thực tập thiền hành. Không khí mát mẻ bên ngoài và màu xanh của cây cỏ sẽ giúp ta rất nhiều. Ta thực tập: “thở vào, tôi biết cái giận còn đó” “thở ra, tôi biết cái giận là tôi, nhưng tôi đồng thời cũng là chánh niệm”. “Thở vào tôi biết cái giận là một cảm thọ khó chịu”. “Thở ra, tôi biết cảm thọ này đã sinh và sẽ diệt”. “Thở vào, tôi có đủ sức bảo trợ cảm thọ này”. “Thở ra, tôi làm cho cảm thọ này trở nên êm dịu”. Chánh niệm ôm lấy cảm thọ như một bà mẹ ôm lấy đứa con đang khóc và truyền vào cho con tất cả sự dịu dàng thương mến của mình. Đó là ý nghĩ của câu “an tịnh tâm hành”. Nếu bà mẹ dồn hết tâm ý vào đứa hài nhi trong khi ôm nó trong vòng tay mình, hài nhi sẽ cảm nhận được sự dịu dàng đó và sẽ dần dần trở nên an tịnh và cuối cùng nín khóc. Nếu chánh niệm thực sự là chánh niệm, có hoà ái, có bất bạo động, thì tâm hành (cảm thọ) cũng sẽ được an tịnh.

Để làm an tịnh cảm thọ khó chịu do cái giận gây nên, ta cũng có thể chú hết tâm ý tới phép thiền hành, điều hợp hơi thở với bước chân, chú ý tới sự xúc tiếp giữa bàn chân và mặt đất. Một lát sau cái giận có thể dịu lại và ta có thể bắt đầu quán chiếu tự tính của nó.
Ai cũng biết khoai tây sống ăn không được. Tuy nhiên nấu chín, khoai ăn rất thơm và ngon. Ta bắc nồi khoai lên bếp lửa và đậy nắp lại. Lửa ví cho chánh niệm, cần phải nuôi dưỡng một thời gian đủ làm cho khoai chín. Nắp nồi giữ cho hơi nóng đừng thất thoát ra ngoài, đó là ví cho sự duy trì định lực: đừng nói, đừng nghe, đừng nghĩ gì cả chỉ tập trung tâm ý vào hơi thở. Ngay từ khi nồi được bắc lên bếp, nước đã bắt đầu ấm. Khi ta bắt đầu phát khởi hơi thở ý thức trên cái giận, tuy cái giận vẫn còn, nhưng với sự có mặt của chánh niệm (lửa), cái giận (nồi khoai) đã bắt đầu có chuyển biến. Chừng ba mươi phút sau khoai chín, ta nhìn thấy rõ được bản chất của cái giận, và cái giận của ta được chuyển hoá. Bấy giờ ta mỉm cười được. Ta biết là ta có thể trở về đối diện với người mà trước đây ta nghĩ là nguyên nhân duy nhất làm phát sinh ra cái giận của ta. Ta có thể giúp được người ấy.

Cái giận của ta có gốc rễ nơi sự thiếu hiểu biết của ta về những nguyên nhân gần và xa đã đưa lại cho ta tính trạng bất như ý. Nó lại có gốc rễ nơi sự tham đắm, lòng tự ái, tính cách dễ bị kích thích và sự nghi ngờ của ta. Cách thức ta đối phó với những biến cố xảy ra phản ảnh tính trạng trí tuệ của ta cũng như tính trạng đam mê của ta. Những gốc rễ chính của cái giận nằm ngay trong ta, hoàn cảnh và kẻ khác không phải là những nguyên nhân chính.

Khi tai nạn động đất hoặc lụt lội, ta có thể chịu đựng được những thiệt hại do thiên tai gây nên, nhưng khi những thiệt hại đó được gây nên bởi con người thì ta lại không thể chịu đựng được. Trong ta phát sinh giận dữ và căm thù. Nếu ta biết rằng động đất và lụt lội đều có nguyên nhân của chúng, thì ta cũng có thể thấy rằng đàng sau những kẻ gây nên thiệt hại cho ta về vật chất cũng như về danh vọng cũng có những nguyên nhân gần xa mà ta phải thấy và phải hiểu. Ta phải thấy rằng tai nạn do người gây nên cũng là một loại thiên tai. Kẻ kia làm khổ ta vì kẻ kia vô minh, kẻ kia bị xâm chiếm bởi tham vọng và hận thù. Những kẻ kia đã cho rằng ta là kẻ thù, là nguyên do của những đau khổ của họ. Nếu ta nổi giận và đối xử với kẻ kia như một kẻ thù thì ta đang biến ta thành kẻ thù kia, ta và kẻ kia không khác.

Dể thực hiện được vững chãi trạng thái vô sân trong tâm tư và cả trong tiềm thức, ta phải tập từ bi quán.

Bài tập thứ mười lăm: từ bi quán là một phép quán để phát triển tâm từ và tâm bi, nhưng cũng là một phép quán để đối trị sân hận và căm thù. Trong kinh Anguttaranikaya (V.161), Bụt có dạy “nếu tâm sân hận nổi lên, người khất sĩ có thể thực tập pháp từ quán, bi quán hay xả quán đối với người đã gây nên tâm niệm sân hận của mình. “Từ (maitri) là tâm nguyện muốn đem tới an lạc và hạnh phúc cho kẻ khác. Bi (karuna) là tâm nguyện muốn làm vơi đi khổ đau nơi kẻ khác. Đó là ý nghĩa của câu từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ. Từ và bi khi đã trở nên những nguồn năng lượng trong ta sẽ có tác dụng đem tới an lạc và hạnh phúc cho kẻ khác và cả cho bản thân của ta nữa.

Mỗi chúng ta đều có sẵn trong ruộng tâm những hạt giống của từ và bi mà chúng ta có thể làm nứt mầm và phát triển thành những nguồn năng lượng tốt đẹp và nhiệm mầu ấy. Từ và bi đều là tình thương, nhưng không phải thứ tình thương có tác dụng chiếm hữu, có tính cách độc tài và thường gây ra đau khổ cho mình và cho người mình thương. Từ và bi là những tâm trạng thương yêu không cần đền trả và không có điều kiện, bởi vậy không đem lại lo âu, chán chường và sầu khổ.

Bản chất của từ và bi là sự hiểu biết, nghĩa là sự nhận chân được tính trạng khổ đau của kẻ khác. Như vậy có nghĩa là ta phải tiếp xúc được với khổ đau của người khác. Những khổ đau này có thể là những khổ đau về thể xác, về vật chất hay về tinh thần, hoặc cả ba thứ hợp lại. Muốn tiếp xúc thực sự với khổ đau của kẻ khác, ta phải đặt ta vào địa vị của kẻ khác, vào “da thịt” của kẻ khác. Ta đi vào thân thể, cảm thọ và tâm hành của người ấy và chứng nghiệm được những khổ đau của người ấy. Một sự quán sát cạn cợt có tính cách bên ngoài không thể giúp ta thấy được một cách hiện thực những khổ đau ấy. Kinh dạy chúng ta phải đồng nhất ta với đối tượng quán chiếu: quán thân trong thân, thọ trong thọ và tâm hành trong tâm hành. Tiếp xúc được với khổ đau của người khác, tự khắc ta thấy phát hiện xót thương trong ta. Niềm xót thương ấy tức là bi vậy. Từ ngữ compassion có thể tạm dùng để dịch chữ bi. Nó có nghĩa là “chia xẻ sự khổ đau”. Là “cùng khổ đau với kẻ kia”. Từ ngữ xót thương cũng hàm chứa kinh nghiệm khổ đau do sự tiếp xúc với khổ đau. Nhìn để thấy và để cảm nhận sự có mặt của khổ đau cùng bản chất của khổ đau, đó là công trình của thiền quán. Ngồi lại trong tư thế hoa sen, điều phục hơi thở và quán chiếu về một người, ta có thể tiếp xúc được với những khổ đau của người ấy và ta làm phát sinh trong ta năng lượng của tâm bi. Nhưng không phải ta chỉ có thể làm việc này trong tư thế thiền toạ. Ta có thể tới với người ấy, quán sát người ấy trong khi người ấy đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng và hành xử. Dấu hiệu của những đau khổ nội tâm và thân thể sẽ phát hiện rõ ràng dưới công trình quán sát của ta. Khi tâm bi đã phát sinh, ta phải tìm cách nuôi dưỡng và biểu hiện nó, nghĩa là ta phải chứng minh cho ta thấy đó thực sự là tâm bi chứ không phải chỉ là một cảm tưởng về tâm bi. Tiếp xử với người ấy, ta có những ý nghĩ, tư tưởng và hành động không trái ngược với tâm bi của ta, và có thể biểu hiện tâm bi của ta với người đó, và dù người đó có những ý nghĩ, lời nói và hành động không dễ thương, tâm bi của ta cũng không vì vậy mà bị suy suyễn. Thực tập như thế đến khi ta nhận thấy tình thương của ta không đòi hỏi người kia phải đền trả hoặc phải dễ thương, nói cách khác là khi ta thấy tính thương ta là một tính thương không có điều kiện thì ta biết rằng tâm bi của ta bây giờ đã là một tâm bi đích thực. Và lúc đó ta chỉ cần tiếp tục quán chiếu và đối xử để triển khai thêm tâm bi của ta. Đứng về phương diện bản thân, ta bắt đầu tiếp nhận những hiệu quả tốt đẹp của tâm bi: ta ngủ ngon hơn, ta thức dậy nhẹ nhàng hơn, ta không có ác mộng, ta không có lo lắng và sầu khổ, ta được mọi người và mọi vật chung quanh che chở và bảo vệ, những người và những vật được bao phủ trong tâm bi của ta đem lại cho ta nhiều niềm vui. Đứng về phương diện kẻ khác, ta thấy nhờ ảnh hưởng của tâm bi ta mà những đau khổ của họ được vơi đi, và cuộc đời dần dần bớt đen tối và sầu khổ.

Sau đó ta tập quán chiếu để tiếp xúc được những nổi khổ nằm sâu hơn trong đối tượng quán chiếu. Có khi người kia không có vẻ gì đang khổ, nhưng ta có thể thấy rằng người ấy có những nổi khổ đau ẩn dấu và thầm kín. Một người ăn mặc sang trọng, có nhà có xe, cũng có thể đang chịu đựng những khổ đau và có thể sẽ đi tự tử trong một vài ba ngày nữa. Ít ai mà không khổ đau, dù nhiều hay ít. Người đã và đang làm cho ta khổ đau, chính người ấy cũng đang khổ. Ta chỉ cần ngồi lại, điều phục hơi thở và quán chiếu, tự khắc thấy được những đau khổ của người ấy. Một ít những khó khăn và khổ đau của ta có thể là do sự vụng về của cha mẹ ta gây ra hồi ta còn thơ ấu. Nhưng chính cha mẹ ta cũng có thể đã là nạn nhân của những thế hệ ông bà đi trước. Đau khổ cũng có thể truyền lại từ đời này sang đời khác và cũng có thể luân hồi. Thấy được những điều ấy, ta không còn trách móc những người làm khổ ta, bởi ta biết những người ấy cũng là nạn nhân của những người khác. Quán chiếu là để hiểu biết, một khi đã hiểu biết, ta có thể tha thứ và bao trùm kẻ kia bằng tâm bi của ta.

Quán chiếu về những khổ đau của người đã và đang làm cho ta đau khổ là một phương pháp quán chiếu rất thần hiệu. Nhờ quán chiếu ta biết được rằng người ấy đang khổ, rằng người ấy có thể đang nghĩ là người ấy sẽ bớt khổ nếu người ấy làm khổ được ta. Thấy được và tiếp xúc được với cái khổ của người ấy rồi, ta sẽ thấy niềm hận thù và cay đắng trong ta đối với người ấy không còn nữa, và ta lại còn mong muốn cho người ấy bớt khổ nữa. Lúc ấy là lúc nguồn suối của tâm bi đã khơi chảy. Ta được thấm nhuần nguồn suối ấy trước. Ta cảm thấy mát mẻ, nhẹ nhàng, có thể cười, có thể ngủ ngon. Ta không cần có đủ hai người mới làm được công việc hoà giải. Do công trình quán chiếu, ta hoà giải được với ta, và ta xem là vấn đề không còn nữa. Người kia sớm muộn gì cũng có thể thấy được thái độ và tâm tư của ta, và sớm muộn gì cũng được thừa hưởng sự mát mẻ của dòng suối yêu thương tuôn chảy tự lòng ta.

Bi quán thực hiện được thì từ quán trở thành một phép quán tương đối dễ dàng. Tâm từ là năng lực có tác dụng đem tới an lạc và hạnh phúc cho kẻ khác. Cố nhiên, cũng như tâm bi, tâm từ được khơi dòng từ bản thân hành giả đem lại an lạc và hạnh phúc cho hành giả trước hết. Ta biết rằng nếu ta không an lạc thì ta sẽ không có an lạc để chia xẻ cho kẻ khác. Vì vậy các pháp từ quán và bi quán đều có tác dụng vừa tự lợi vừa lợi tha.

Làm vơi bớt nổi khổ niềm đau nơi kẻ khác cũng đã là đem an lạc hạnh phúc cho kẻ ấy rồi. Tuy nhiên ta biết rằng cuộc đời này tuy có khổ đau mà cũng có mầu nhiệm. Sức khoẻ, sự an vui, khả năng xúc tiếp với những hiện tượng mầu nhiệm của cuộc sống như một buổi mai đẹp trời, một đêm trăng thu, một đoá hoa vàng, một cành trúc tím, một dòng nước trong, một bé thơ xinh đẹp, v v . . . Khi ta bị khổ đau giam hãm, ta không tiếp xúc được với những thực tại mầu nhiệm đó. Vì vậy bất cứ một lời nói, một ý nghĩ hay một hành động nào có thể tháo gỡ được khổ đau, có thể đưa lại những điều kiện cho sự vui sống, từ những quyền lợi như tự do, bình đẳng, cho đến những điều kiện tâm lý, tình cảm và xã hội cần thiết để con người được sống xứng đáng là một con người đều được gọi là từ và bi. Do công trình quán chiếu ta cũng thấy được những khổ đau của các loài động vật và của các loài thực vật nữa, và tâm từ và tâm bi của ta cũng sẽ bao trùm được các loài này một cách trọn vẹn. Từ và bi là những đoá hoa đẹp nhất nở trên căn bản hiểu biết và tiếp xúc. Mà thiền quán là yếu tố đưa tới sự tiếp xúc và hiểu biết ấy. Cũng như khi ta thực hiện tâm bi, khi thực hiện tâm từ ta phải đi đến với đối tượng mà ta quán chiếu. Tâm từ của ta phải là một nguồn năng lực có thật và có tác dụng chứ không phải là một điều ta tưởng tượng.

Kinh có nói trong khi thiền quán ta có thể gửi tâm từ và tâm bi đi bốn phương và bao trùm mọi loài chúng sanh trong các tâm ấy. Nhưng ta hãy cẩn thận, đừng hiểu lầm rằng từ quán và bi quán là ngồi yên và tưởng tượng rằng tâm từ và tâm bi của ta có thể được phóng đi trong không gian như những luồng sóng âm thanh hay những luồng ánh sáng. Âm thanh và ánh sáng phóng đi tới đâu thì có tác dụng đến đó. Từ và bi cũng vậy. Nếu từ và bi là chất liệu có thật thì khi phóng đi sẽ có tác dụng trên mọi loài. Nếu từ và bi chỉ là một thứ tưởng tượng (như một đám mây màu trắng đục toát ra và dần dần lan rộng bao trùm cả thế giới) thì sẽ không có tác dụng gì cả. Đám mây này chỉ là một đám mây tưởng tượng. Đám mây thật thì có thể làm mưa. Chính trong đời sống hàng ngày và bằng cách tiếp xử với mọi người mọi loài, trong đó có đối tượng quán chiếu của ta, mà ta biết được tâm từ và tâm bi của ta đã thật sự có mặt chưa và đã vững mạnh đến mức độ nào. Từ và bi luôn luôn được biểu hiện trong đời sống hằng ngày và trong cách tiếp xử ta với mọi vật. Tư thế thiền toạ không phải là tư thế duy nhất trong đó ta có thể khơi mở được dòng suối từ bi.

Nhiều người cho rằng nếu không có thế lực và tiền bạc thì không thể thực hiện được lòng từ và lòng bi. Thật ra, khi đã có nguồn suối từ bi trong ta, ta có thể giúp cho nhiều người bớt khổ và đem lại cho họ rất nhiều hạnh phúc mà không cần tới tiền tài hay quyền thế. Mỗi một lời nói, một động tác hay một ý nghĩ của ta cũng có thể làm cho người kia bớt khổ và có thêm hạnh phúc. Một lời nói có thể an ủi, có thể gây được niềm tin, có thể làm tiêu tán sự nghi ngờ, có thể giúp cho kẻ kia tránh được lỗi lầm tai hại, có thể hoà giải xung đột, có thể khai mở lối thoát cho người, hoặc chỉ dẫn cho người con đường đi đến thành công và hạnh phúc. Một cử chỉ cũng có thể làm được những công trình tương tợ, có thể cứu được mạng người hay mạng vật, có thể giúp những người kia nắm lấy được cơ hội ngàn năm một thuở của họ. Một ý nghĩ cũng thế, bởi vì ý nghĩ luôn luôn đưa tới lời nói và hành động. Có chất liệu từ bi trong tâm thì mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của ta đều có thể tạo nên phép lạ. Bởi vì hiểu biết là bản chất của từ bi, cho nên những lời nói và hành động do từ bi phát động sẽ là những lời nói và hành động phù hợp với tình trạng “yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau”, nghĩa là tình trạng muốn giúp mà vì vụng về chỉ làm cho người được thương thêm khổ. Người hành giả không thể không nhớ rằng thương yêu là một với hiểu biết.

This entry was posted in Bài đọc, Pháp thoại phiên tả, Pháp thoại và sách Sư Ông, Xóm Dừa Tu Học. Bookmark the permalink.

Comments are closed.