Tiếp Nối Thầy

Cách tiếp nối thầy hay nhất là sống chánh niệm trong mọi sinh hoạt, biết hiểu và thương mình cũng như người khác trong mọi hoàn cảnh.

Ba cuốn sách nhỏ của tăng thân Xóm Dừa viết tạ ơn thầy đã ấn hành và tặng Thầy vào ngày sinh nhật, năm 2010, 2011 và 2013.

Quý vị có thể đóng góp cho mục này, bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Bài viết từ 200 chữ tới 2000 chữ. Xin vui lòng email info@xomdua.org

Quý vị có thể gửi:

  1. Hình ảnh đặc biệt của thầy Nhất Hạnh
  2. Bài viết của quý vị về kinh nghiệm tu học bản thân
  3. Các bài viết đặc biệt trong giới văn học và truyền thông quốc tế về Thầy Nhất Hạnh

Ban biên tập có thể chỉnh sửa bài viết trước khi đăng trên mạng.

Chiếc Áo Lạnh Phai Màu

Chép tủ` “Tùy Tâm Bút” Trong cuốn Đức Phật Ngồi Yên

của Huyền Không (cố Hòa Thủỏng Mãn Giác) 

Hôm nay là 18 tháng 3 rồi. Lệ thủờng hàng năm ,vào tháng 3 là chuẩn bị sang Xuân, trời Cali rất ấm dịu. Thế mà năm nay, đả trung tuần tháng 3 mà trời vẫn còn lạnh. Không những lạnh, mấy ngày nay, trời lại còn làm mủa, làm gió, làm cho cả cái trần nhà phòng tôi bị dột. Cái lạnh và mủa trái mùa này đả làm cho tôi bâng khuâng, sống lại những mùa lạnh đả đi qua trong đời, của Tokyo vắng trống ray rức con ngủỏ`i và rõ hỏn, gần hỏn hết là của Paris xa lạ trong những tháng ngày đầu tiên tôi làm ngủời tỵ nạn.

Tủ` trại Mersing town, Malaysia tôi đến Paris ngày 12-10-1977. Thời gian này ỏ ̉ đấy ba bên bốn bề đều ngập tràn băng giá. Sau một tuần ỏ ̉ Paris làm thủ tục giấy tỏ`, tôi về Pháp Vân Thiền Viện  với Thầy Nhất Hạnh. Thiền Viện Pháp Vân nằm trên triền một ngọn đồi giủ~a làng Fontvannes, thuộc quận Estissac cách Paris hơn trăm cây số.  Xa Paris và lại ỏ ̉ trong cảnh núi đồi, Thiền Viện lại càng lạnh nhiều. Tuy vậy, vẫn có những buổi sáng nắng lên, mang lại cho Thiền Viện chút tủỏi tỉnh của đất trời và chúng tôi, chút “hạnh phúc đơn sơ” được đi dạo trên các ngọn đồi gần đấy để ngắm trời nhìn đất yên lành trong buổi sớm và để nhổ một ít cải non về ăn sống. Thỉnh thoảng trong những lần đi dạo nhủ thế, gặp những người trong làng đi qua, họ không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy chúng tôi thích thú giữa cảnh trỏ`i lạnh buốt. Họ hỏi thì Thầy Nhất Hạnh trả lời họ rằng, trời tuy lạnh nhủng tôi đả có lửa trong ngủỏ`i chúng tôi .Chúng tôi lấy lủ~a trong lòng để sưởi ấm cái lạnh bên ngoài. Câu trả lời mang khí vị Thiền ấy lại càng làm cho họ ngạc nhiên hỏn.

Khu vườn xung quanh Thiền Viện đầy những thực phẩm sống do Thầy Nhất Hạnh trồng. Nào ngò, nào cải, xà lách, nào bắp sú, sú lỏ, su le, tần ô …Trong khung cảnh đời sống xã hội Tây Phủỏng, một khu vườn như thế thủ ̣c nên thơ và dễ thủỏng lạ lùng. Đối với tôi ,nó lại càng mang cái vẻ thân thiết của người đả ra công vun xới cho nó ra vẻ của những mảnh vườn quê hủỏng vốn đã xa xôi. “Văn tức người” – đối với Thầy Nhất Hạnh điều đó đúng. Ỏ ̉ đây tôi muốn nói một điều đúng hơn, cũng đối với Thầy Nhất Hạnh, ”vườn tức là người” Thầy Nhất Hạnh thế nào thì cảnh vườn Pháp Vân do tay Thầy vun xới cũng y nhủ thế. Đỏn sơ, giản dị mà đầy cái khí vị thâm trầm. Đường nét nhỏ nhặt mà mỗi đường, mỗi nét đầy khí sắc. Và trên tất cả là cái hồn phảng phất của nó, mang chở ̉ hủỏng vị của Thiền và của quê hủỏng. Nghệ sĩ, Thiền, và Quê Hủỏng. Đó là con người của Thầy. Đó cũng là những gì mà khu vườn tỏa ra bằng hủỏng, bằng sắc, bằng khí vị của nó. Thực là khó để tôi có thể nói hết những cảm nhận của tôi về khu vủờn Pháp Vân nhỏ bé trong cái thế giới bao la này. Nó có thể không là gì cả như chính cái thế giỏ´i bao la này, cũng không là gì cả. Nhủng nó cũng có thể là tất cả những gì mà một người có thể cảm nhận được từ thế giới bao la này.

Trong vườn còn có một giếng nước nằm dưới mấy gốc cây lớn, có mắc mấy ghế dây đu. Thường khi dạo vườn chúng tôi ngồi trên mấy cái ghế dây đu ấy nghỉ chân. Khung cảnh lặng lẽ đến nổi chúng tôi không thể nói một lời nào với nhau lúc bấy giỏ` vì sỏ ̣ âm vang sẽ làm xao động và tan biến đi mất cái yên lặng thiêng liêng của đất trời. Gió buốt mỏn man. Mây trời lãng đãng. Cây lá như cũng trầm tư với nguồn vui lặng lẽ của chúng tôi. Ngồi như thế, không nói năng nhưng trong tận cùng vẫn như có một nẻo tủỏng giao nào đó  giữa chúng tôi, cái nẽo tủỏng giao của từ những năm tháng xa xưa cho đến bây giỏ`. Chúng tôi tủ ̣ biết với nhau rằng, chúng tôi đang trở về thời thỏ ấu của mình ỏ ̉ Phât Học Đủờng Báo Quốc. Thuỏ ̉ ấy, Thầy Nhất Hạnh và tôi học khác lớp nhưng thân thiết với nhau còn hơn cả những anh em đồng lớp. Sân Chùa Bảo Quốc có hai hàng nhãn, cành lá phủ bóng suốt ngày với những phiến đá ỏ ̉ dưới gốc cây. Anh em chúng tôi cũng đã từng ngồi yên lặng trên những phiến đá ấy vào những buổi chiều yên lặng. Đả có những khi chúng tôi đả không nói với nhau một lời nào nhủ lúc này. Cũng có những khi, chúng tôi nói nhỏ cho nhau nghe những câu chuyện nhỏ bé vây phũ tuổi đời ấu thỏ của chúng tôi bấy giỏ`. Thỉnh thoảng, Thầy Nhất Hạnh lại đọc nho nhỏ cho tôi nghe những bài thỏ Thầy mới làm. Không mang nổi rộn ràng nhủng thựcc là chúng tôi đả có nhau nhiều hỏn một chút ấm ở trong lòng của nhau.

Kết quả của những tháng ngày bên nhau dưới những gốc cây nhản đó, vào năm 1949, tôi cho ra đời tập thỏ đầu tay KHÔNG BẾN HẠN. Sau đó không lâu, Thầy Nhất Hạnh vào Saigon, tủ ̣ làm một cuộc cách mạng đối với hệ thống giáo dục khép kín của Phật Giáo bấy giỏ`. Đến năm 1950, Thầy Nhất Hạnh cho ra đời tập thỏ đầu tiên TIẾNG ĐỊCH CHIỀU THU  tại Saigon. Trong nhãn quan của thời bấy giỏ`, chuyện văn hóa, nghệ thuật, thi ca như không liên hệ gì đến sinh hoạt của một Tăng sỉ Phật Giáo. Nó như chỉ để cho người đời, còn Tăng sĩ thì chỉ nên lo tụng kinh, niệm Phật. Sinh bất phụng thời nhủ thế nên TIẾNG ĐỊCH CHIỀU THU  đả bị nhóm Bách Việt đả kích trên một quan niệm hẹp hòi về văn hóa, cũng nhủ KHÔNG BẾN HẠN của tôi bị đả kích ở Huế. Nhủng Huế là ao tù nên những lời đả kích trước sau cũng chỉ quanh quẩn trong thành phố cổ kính rêu phong mà thôi. Còn  TIẾNG ĐỊCH CHIỀU THU  bị đả kích tại Saigòn, mang một tầm mức rộng lớn hỏn nhiều. Đến năm 1951, trong niềm hy vọng ở con đường văn hóa mỏ ̉ rộng, tôi tiếp tục cho ra tập thỏ thủ´ hai  HỦỎNG TRẦN GIAN, Thầy Nhất Hạnh đề tựa cho tập thỏ này đồng thời nói lên tiếng nói cho một quan niệm rộng rải và bao dung cần thiết cho thi ca
.
Hỏn 30 năm trời trôi qua vỏ´i bao cuộc đổi dời biến thiên. Có lúc sống xa nhau, có lúc sống gần nhau nhủng cái hình ảnh của một thời đả qua trên đây, thật không dễ phôi pha. Và vì không dễ phôi pha mà nó đả trỏ ̉ về trong tôi trọn vẹn đêm 17-3-82 với mủa, lạnh và sấm sét. Trong cái ray rứt tìm về dĩ vãng nhủ thế, tôi đả lần dở lại từng trang THỦ ̉ TÌM DẤU CHÂN TRÊN CÁT  của Chân Không Cao Ngọc Phủỏng ( Lá Bối xuất bản ) để mong tìm lại dấu chân cũ của người đả từng cùng tôi cho nhau, nhiều hơn một chút ấm ỏ ̉ trong lòng .
Có hay không, một vết trầm lắng đọng từ những bủỏ´c chân đi ? Nói theo người xủa, nếu có thì đó chính là “có từ mảy may”; nếu không thì “cả thế gian này cũng không “. Dấu chân trên cát hay là vết nắng của chiều tà trên sa mạc hay là khác nữa, dấu chân chim trên bầu trời một thuở bay ngang, Tất cả đó, nói cho cùng, là những biểu tủợng khác nhau nhưng đều cùng diển tả cái ý nghĩa nền tảng của hiện hữu. Một con ngủời, một tiếng nói hay cả vũ trụ này cũng chỉ hiện hữu nhủ thế, Đi tìm dấu chân trên cát thì ra chính là đi tìm hiện hữu trong cái ý nghĩa nền tảng của nó. Hiện hữu này ỏ ̉ đây là thỏ Thầy Nhất Hạnh.

Kể từ TIẾNG ĐỊCH CHIỀU THU cho đến nay, chỉ riêng trong lảnh vủc thi ca ( đúng ra phải nói trong mỗi lãnh vủc của đời sống mà Thầy Nhất Hạnh đả tham dự, một sủ ̣ tách biệt nhủ thế này dù sao cũng là một sủ ̣ củỡng ép) . Thầy Nhất Hạnh đả đi những bước dài đều đặn. Không ồn ào nhủ một cố gắng khuấy động nhứt thời, cũng không nhứt thiết nuôi chủ ý tạo nên một hiện tượng mới mẻ gì, tiếng thơ của Thầy vẫn mang đủỏc cả cái âm trầm cần thiết của tiếng nói con người đích thực giữa một xã hội điêu linh, hổn loạn. Tiếng nói đó có khi nhẹ nhàng, thanh thản và trong trẻo của một cỏi lòng đả “lặng hết bao nhiêu lớp sóng cồn”, có khi trầm trọng, thống thiết nhủ chính xủỏng máu Việt Nam đả trầm trọng đổ ra đêm ngày trong nổi thống thiết vô hạn của “cuộc tồn sinh tủi nhục không chừng “. Tiếng nói đó có khi mở ra cả một cõi thơ hết sức gần gủi mà lại đẹp đẻ vô cùng với sủ ̣ hiện hữu nhiệm mầu của nụ cười em thơ, của hoa lá, chim chóc, của suối reo , rừng hủỏng, của “chút lửa hồng bếp cũ”, của khúc ca mùa tuôn dậy màu xanh “ khiến cho người đọc có thể không hiểu trọn mà vẩn cảm được trọn vẹn; có khi lại bày ra cả một cõi tư tưởng với những chiêm niệm triết lý khá gay go cho những ai chưa từng quen với chúng …Nhủng trên tất cả và ở trong tất cả, những biểu hiệu này đã như hòa hợp trong nhau và đều như chỉ cùng nói lên một tiếng nói: tiếng nói của con người đối với những tủỏng quan hiện hữu của chính nó. Nói đủỏc tiếng nói này đó là tất cả cái mà con người trông đợi ở nhà thơ chứ không là cái gì khác. Và nhà thơ, được choàng “vòng hoa “ hay bị “ đuổi ra khỏi xủ´” thì cũng chỉ bởi vì đả nói được tiếng nói này. Nhưng dù được hay bị thì đó cũng là tất cả cái cao quý nhứt của nhà thỏ và của thơ.

Những con người đích thực thì không phải là con người của chủ nghĩa, tiếng nói đích thực của con người thì không phải là tiếng nói của bên này hay bên kia khi cả hai bên đều buôn bán máu xủỏng và sủ ̣sống của con người. Thỏ Thầy Nhất Hạnh đả từng bị cấm lủu hành ở bên này, miền Nam VN, trước đây. Thỏ đó cũng đả từng bị kết án nặng nề ỏ ̉ bên kia, miền Bắc Việt Nam , trước đây và bây giờ. Đó chẳng phải là một điều khó hiểu .Bởi vì , trước và sau nó đả không nói tiếng nói của bên này hay bên kia. Nó đả chỉ nói tiếng nói của con người .Tủi nhục của nó, nếu có, thì đó cũng chỉ là cái tủi nhục lớn lao của con người. Nhủng chính từ cái tủi nhục đó mà nó lại chừng tỏ đủợc cái hiện hữu cao quý của chính nó.

Ghi chép về thỏ Thầy Nhất Hạnh, đó thực ra chỉ là một ghi chú khiêm tốn của Cao Ngọc Phượng, tác giả THỦ ̉ TÌM DẤU CHÂN TRÊN CÁT. Tác giả đả thử tìm lại cái Hiện hữu của thỏ Thầy Nhất Hạnh trong chính cái ý nghĩa nền tảng của nó.

Tôi nghĩ là tác giả đả tìm đủỏc và cũng sẽ giúp cho nhiều người tìm đủỏc, với tập sách này.
Trong thời gian ở Paris, một tháng tôi thường về sống Thiền một tuần với Thầy Nhất Hạnh ỏ ̉ Thiền Viện Pháp Vân. Một hôm, sau khi xã Thiền, tôi đi qua nhà in để tìm Thầy Nhất Hạnh.Từ Thiền Đủờng bủỏ´c ra, cỏn lạnh bên ngoài xâm chiếm, tôi bị cảm ngay. Thầy Nhất Hạnh đả cời ngay chiếc áo lạnh đang mặc trao cho tôi. Rồi tôi trỏ ̉về Paris ,chiếc áo lạnh đó, Thầy Nhất Hạnh bảo tôi củ´ giữ lấy để mặc. Rồi ngày 17-01-1978 ,tôi đi New York, Thầy Nhất Hạnh cũng bảo tôi mặc áo ấy mà đi. Và từ đó đến nay, chiếc áo lạnh ấy vẫn ỏ ̉ bên tôi. Mỗi mùa lạnh đi qua, tôi lại cẩn thận giặt áo sạch sẽ để xếp bỏ vào thùng cất. Đến nay, áo đả phai màu nhủng nó vẫn là chiếc áo tôi mặc vào mùa lạnh.

Chiếc áo thực đả không chỉ là chiếc áo. Nó đả là hình ảnh đạo tình của Thầy Nhất Hạnh, hình ảnh của Thiền Viện Pháp Vân, của ngay cả những ngày thỏ ấu có hai anh em chúng tôi trên những phiến đá dưới hai hàng cây nhãn ỏ ̉ sân Phật Học Đủờng Bảo Quốc. Và nhủ thế, nó đả mang cả cái hồn thỏ, tình thỏ của Thầy Nhất Hạnh ỏ ̉trong nó.

Đạo Phật sống giữa đời

Ngô Nhân Dụng

Những đệ tử ở gần Thiền sư Nhất Hạnh thấy ông mang một hạnh nguyện vững như núi đá. Đối với hàng trăm ngàn người đã tìm ông như nơi an trú tâm linh, ông là một bóng cây tươi mát. Hàng chục triệu người trong thế giới gặp ông qua những cuốn sách, lắng nghe ông nói thứ ngôn ngữ từ ái như nước suối “trong nguồn chẩy ra.”

Nhưng nhiều người ở xa lại chỉ nhìn thấy trong những lời nói và hành động của ông những hệ quả hoặc ý nghĩa chính trị làm họ bất bình. Ông được nhiều người khắp nơi ngưỡng mộ, nhưng cũng nhiều ngườiViệt Nam chống đối. Thiền sư Nhất Hạnh trở thành một tiêu điểm cho nhiều người nhìn vào và nổi lòng hâm mộ hoặc oán giận. Nhiều người muốn giữ thái độ bình thản trung dung, không yêu không ghét đối với ông, nhưng vẫn để tâm quan sát, theo dõi, phân tích và bầy tỏ ý kiến về ông, phê phán những cử chỉ, lời nói của ông, từ một bộ áo ông mặc khi hành lễ đến cách ông viết một bức thư gửi chung mọi người.

Người ta nhìn ông như thể ông là một cô dâu mới về nhà chồng hay một ứng cử viên vào một chức vụ chính trị. Rất ít người nhìn ông với con mắt vô ý, vô tư, bình tâm bất động. Cái nghiệp đó, ông tạo ra và thời thế đất nước tạo ra. Nghiệp chung của dân tộc Việt Nam và nghiệp riêng một một nhà tu dấn thân không thể tách rời nhau được. Có lẽ phải chờ một vài thế hệ nữa, người ta mới tạm đồng ý với nhau về hành trạng của Thích Nhất Hạnh và những đóng góp của ông cho đạo Phật ở nước ta và trong nhân loại.

Thích Nhất Hạnh được nhiều người nước ngoài hâm mộ, sách của ông được dịch ra dăm chục thứ tiếng khác nhau, những khoá giảng của ông thu hút năm, mười ngàn người ở Âu châu, Mỹ châu, trước khi ông được hàng chục ngàn đồng bào tiếp đón khi trở về Việt Nam trong những năm 2005 và 2007, sau khi phải sống xa quê hương 40 năm. Những năm trước đó, nhiều triệu người Việt ở trong nước chỉ biết ông qua sách vở. Trong những thập niên 1970, 80 những tác phẩm của ông mới xuất bản ở nước ngoài đã được gửi ngay về trong nước, nhiều Phật tử đã chụp lại cả cuốn sách hoặc chép tay những bài thi kệ để truyền tay nhau đọc. Họ sống hạnh phúc hơn trong một xã hội đang thay đổi.

Thích Nhất Hạnh thể nghiệm và trình bầy phương cách tu tập giáo lý của Đức Phật sao cho thích hợp cho những người sống ở đời nay, những phép tu được coi là canh tân, có khi gọi là cách mạng. Nhiều hành động của ông mới quá, nhiều người không thể theo. Tại một khoá tu quán niệm với các Phật tử ở Mỹ châu trong thập niên 1960, một đệ tử đã xin phép được “hugging” với ông, đó là lối chào hỏi bằng cách vòng tay ôm nhẹ vai nhau, khi gặp gỡ hay khi từ giã. Nhất Hạnh đã đồng ý cho người phụ nữ này hug thầy, nhân đó bầy cho các thiền sinh ngoại quốc phương pháp hugging trong chánh niệm như thế nào. Mấy tháng sau, ông đang đi cùng các tăng sĩ Nam Tông ở thành phố Vientiane tình cờ gặp lại người nữ đệ tử Mỹ đó; bà ta hớn hở tiến tới “hug” thầy, trước những đôi mắt ngạc nhiên của chư tôn đức người Lào, và chính ông thầy người Việt cũng lúng túng, bỡ ngỡ.

Ông không ngần ngại khuyến khích các ni sư người Thái Lan sau khi tu tập ở Làng Mai trở về nước tái lập những tu viện cho nữ giới, sau khi những định chế này đã mai một trong xứ Phật giáo truyền thống phương Nam này. Không biết quý vị lãnh đạo Phật giáo ở các nước Nam Tông sẽ phản ứng ra sao trong vòng nửa thế kỷ sắp tới. Nhất Hạnh cũng làm nhiều người ngạc nhiên vì ngôn ngữ của ông.

Là một người làm thơ, Nhất Hạnh làm sống lại những bài kệ để người Phật tử tâm niệm như một phương pháp tu tập nền tảng. Ông có thể chuyển sang tiếng Việt Nam những bản dịch nhuần nhã các kinh căn bản Bắc tông như kinh Bát Đại Nhân Giác, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh A Di Đà, và những kinh thường phổ biến trong Nam tông như Kinh Người Biết Sống Một Mình, kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Tứ Niệm Xứ Nhờ làm chủ ngôn ngữ Việt Nam và thấu hiểu ý bản gốc chữ Phạn và Pali hay bản dịch chữ Hán, lời kinh do ông dịch dễ tụng, dễ ghi nhớ. Cũng vì yêu tiếng Việt, ông phục hồi chữ Bụt, là tên gọi danh hiệu Phật trước khi người Việt Nam học chữ Hán. Nhiều người tưởng đó là một việc làm cách mạng, không biết rằng đó là do một thái độ phục cổ. Cũng vậy, khi ông dùng những câu chú phiên âm từ chữ Phạn, “Ga tê, Ga tê, Para Gatê, …” cho gần với bản gốc hơn, thay vì theo bản phiên âm của Huyền Trang đọc theo lối Hán Việt, “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế …” nhiều người bảo rằng Nhất Hạnh đã cho học trò tụng kinh bằng “tiếng Tây.”

Một người không ngần ngại nói và làm ngược với thói tục, ngay từ thời thanh niên đã bị coi là muốn làm cách mạng trong phương pháp tu hành, nhưng Nhất Hạnh cũng là một người muốn phục hồi lại những truyền thống trong quy củ của thiền môn. Các đệ tử tại các tự viện ở Làng Mai (Pháp), Rừng Phong (Mỹ) hay Bát Nhã (Việt Nam) đều phải theo những thanh quy, giới luật nghiêm ngặt mà Nhất Hạnh đã được các thầy dậy cho từ khi xuất gia năm 15 tuổi. Nhiều quy luật đó bắt đầu thành hình từ các tăng đoàn đầu tiên quy tụ chung quanh Đức Thích Ca. Ngay trong việc gìn giữ thanh quy này, nhiều người coi ông là cách mạng, cũng có người thấy ông rất bảo thủ.

Các tăng ni ở Việt Nam hay các nơi khác trên thế giới đã có thói quen làm chủ nhân một chiếc xe, đứng tên các tài khoản ngân hàng, hoặc dùng điện thoại riêng, dùng email riêng, đã thấy họ không thể tự thay đổi mà chấp nhận lối sống không tư hữu, không ràng buộc vào của cải. Nhưng đó cũng là những thanh quy cổ truyền mà Thích Nhất Hạnh muốn phục hồi. Ông trở thành một người mang hình ảnh bảo thủ, đi ngược với “xu thế” của thời đại mới!

Có lẽ trong vài thế hệ nữa người ta có thể đồng ý về một đóng góp đáng kể của Nhất Hạnh cho Phật giáo và cho thế giới là việc tái lập những quy củ thiền môn, nối tiếp bước chân của các ngài Bách Trượng, Lâm Tế, Liễu Quán, vân vân. Nhưng trong lúc ông còn sống, có những quy tắc ông thực hành trong tự viện bị coi là mới quá. Nhiều người thấy các thanh quy này quá tân tiến khi giảm bớt uy quyền của những vị lãnh đạo trong tập thể tăng ni. Vì ông đề cao quy tắc bình đẳng giữa mọi người trong tăng đoàn, dùng những thủ tục quyết định tập thể dân chủ, thực hiện hoà hợp tăng bằng luật lệ chứ không chỉ bằng tình cảm. Nhiều người lại thấy ông bảo vệ nhiều quy tắc bảo thủ quá, khi nghiêm cấm các tăng ni không được sống như những cá nhân độc lập tách rời khỏi tăng thân. Nhưng tất cả các quy luật “mới” hay “cũ” mà Thích Nhất Hạnh áp dụng đều bắt nguồn từ tinh thần giáo luật có từ thời đức Thích Ca tại thế.

Khi người Ấn Độ soạn bản hiến pháp đầu tiên sau quyết định lập quốc năm 1947, người đứng đầu uỷ ban soạn thảo hiến pháp đã nhấn mạnh rằng dân Ấn Độ không cần tìm học tinh thần dân chủ từ các triết gia và các chế độ dân chủ đã thực hiện ở Tây phương. Tập thể đông người đầu tiên trên thế giới sống chung với nhau theo tinh thần dân chủ là tăng đoàn chung quanh đức Phật. Sau khi Phật Thích Ca qua đời, các giáo đoàn họp nhau lại xác định những quy củ, giáo luật, nhiều quy tắc rất tỷ mỉ, tạo thành những tập hợp sống chung theo quy tắc dân chủ sớm nhất của loài người, cũng là những tập thể giử kỷ luật nghiêm cẩn nhất. Chính trong những tăng đoàn đó, họp lại nhiều lần trong mấy trăm năm, người ta đã đặt ra các “quy tắc nghị sự” sớm nhất, như quốc hội các nước đã áp dụng trong mấy thế kỷ gần đây.

Ngày nay khi đem áp dụng tinh thần dân chủ đó trong nếp sống tự viện, cùng một lúc vẫn muốn tái lập những kỷ luật mà người tu hành phải theo để thể nhập giáo lý đạo Phật, Thích Nhất Hạnh được nhiều người nhìn là quá cách mạng, đồng thời cũng có người thấy là quá bảo thủ.

Bên cạnh việc hiện đại hoá nếp sống người tu, Thích Nhất Hạnh cũng mang Đạo Phật vào cuộc sống hiện đại cho các Phật tử tại gia. Một tờ báo Phật giáo ở Mỹ nhận xét rằng có mấy đợt những làn sóng đạo Phật truyền vào nước Mỹ. Có những đợt sóng tâm linh Phương Đông đến rất sớm như từ thời Đạo sư Vivekananda. Rồi tới lượt các thiền sư Nhật Bản, các đạo sĩ Ấn Độ, rồi các thầy Tây Tạng. Một đặc điểm của phương pháp tu tập mà Thích Nhất Hạnh đem tới trong đợt sóng mới nhất là ông dậy một đạo Phật để sống giữa cuộc đời, chứ không chỉ dành cho những người sống trong tu viện. Có hai điều thường được ông nhấn mạnh, một là tu tập trong cuộc sống chung, bắt đầu từ đời sống gia đình. Hai là vai trò bình đẳng của nữ giới đối với nam giới, một truyền thống của người Việt Nam không giống các nước khác.

Cho nên nhiều người ngoại quốc coi ông là một đại biểu của truyền thống Phật giáo Việt Nam, mang đạo giải thoát cứu khổ đến với thế giới trong một thời đại với nhiều đau khổ mới. Hình thái của khổ đế thay đổi với lịch sử loài người, Nhất Hạnh đối chứng với những cái khổ mới để tìm trong Phật pháp những phương cách diệt khổ mới. Đó là một đóng góp của ông cho thế giới bây giờ.

Nếu Thiền sư Nhất Hạnh chỉ ngồi yên trong thiền thất và truyền dậy những đệ tử cầu học về cách sống theo Đạo Phật Ngày Nay, thì chắc chỉ có những người yêu mến và kính trọng ông mà không có những dư luận phức tạp về ông. Nhưng ông muốn đưa Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời, đạo Phật là đạo nhập thế, sống ở giữa thế gian. Trong một thế gian phức tạp, đi, đứng giữa cuộc đời sẽ được mọi người nhìn dưới những con mắt phức tạp. Nhiều người yêu mến, kính trọng ông và họ lại muốn những hành động và lời nói của ông phải phù hợp với hình ảnh mà họ đã tạo nên trong đầu. Nhiều người vốn không đồng ý với các việc ông làm cho nên hễ nghe và tin ngay rồi đem loan truyền những lời đồn đãi xấu về ông mà không thấy cần kiểm chứng. Không ai nghe ông thốt một lời nói nào không ái ngữ đối với những người đó. Nhưng cái nghiệp dĩ phiền tạp này sẽ còn theo ông suốt đời. Khi ông trở về Việt Nam gần đây, ông cũng gây nên sóng gió trong dư luận, cũng vì cái nghiệp chung của dân tộc và nghiệp riêng của từng người, trong đó có ông. Trong mươi năm nữa thôi, chắc mọi người sẽ quên các cơn gió bụi mới thổi qua, thế hệ sắp tới sẽ nhìn lại để thấy vào lúc tuổi đã gần 80, một nhà sư người Việt đã cố gắng trở về góp phần của mình nuôi sống lại cuộc sống tâm linh của dân tộc đã bị hao mòn và khô héo từ mấy thế kỷ vừa qua. Sẽ cần vài thế hệ tăng ni và Phật tử tiếp nối công trình đó ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Người ta sẽ nhớ đến ông như một người có đóng góp vào giòng sống tâm linh của nhân loại, nhờ ông đã lớn lên và được nuôi dưỡng trong truyền thống Phật giáo Việt Nam.

(Trích báo Thế Kỷ 21, số 218 June 2007)

Có một Đạo Phật như thế !

Bùi Tín – 19.10.2006

BBT : Bùi Tín, cựu Đại tá quân đội Nhân Dân Việt Nam, cựu đảng viên, cán bộ cao cấp của đảng CSVN, nguyên là Phó Tổng Biên Tập nhựt báo Nhân Dân, kiêm Tổng biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhựt. Sau chuyến công vụ tại Pháp vào tháng 9 năm 1990. Chứng kiến các phong trào dân chủ tại các nước cộng sản Đông Âu ngày càng thắng thế, và Việt Nam cũng bị buộc phải mở cửa giao thương kinh tế với thế giới tự do, đồng thời vẫn xiết chặt các lĩnh vực chính trị và văn hóa. Tháng 11 cùng năm, ông phổ biến bản Kiến Nghị Của Một Công Dân, kêu gọi Hànội tiến hành đổi mới triệt để, xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, thực sự tự do, đưa cả nước tiến theo kịp thế giới. Cũng bắt đầu từ đó ông bị khai trừ khỏi Đảng. Mùa hè năm nay, ông có dịp hành hương thăm viếng, tu tập tại Làng Mai. Chuyến đi đã để lại cho ông nhiều ấn tượng đẹp, ông nói : “Cuộc đời còn lại của tôi mang dấu ấn cuộc hành hương ngắn ngủi này”. Đó cũng là lý do để chúng ta có dịp chia sẻ với ông qua bài này. Cố nhiên đây là cái nhìn rất riêng tư của ông, không nhất thiết phải phản ánh đúng về hình ảnh và nội dung rất đa dạng của Làng Mai.

Duyên hạnh ngộ với làng Mai : Tôi nghe nói về làng Mai từ lâu. Trước đó là làng Hồng. Không phải là làng trồng hoa hồng, mà là cây hồng ăn quả, như hồng Lạng sơn ở bên nhà. Trồng hồng không được tốt, quả không sai, không ngọt, nên chuyển sang trồng mai. Mai cũng không phải mai hoa vàng, như ở miền Nam nước ta, màu vàng rực vào dịp Tết. Mai đây thật ra là mận, là prunier, là thổ sản danh tiếng miền Dordogne, Tây nam nước Pháp. Cả miền rộng này bạt ngàn là mận, nổi tiếng nhất là Agen. Quả mận Agen, màu tím đậm, thơm ngọt sấy thành mứt, tiêu thụ khắp nước Pháp, xuất khẩu đi toàn thế giới cùng với rượu đỏ Bordeaux.
Từ bé tôi đã có duyên với đạo Phật. Gia đình tôi có 10 anh chị em, tôi là thứ 8. Trước tôi là 7 người chị. Mẹ tôi sinh tôi trong một thai đôi, có bọc, một gái ra trước bị ngạt, và tôi ra sau, thoi thóp. Từ mấy năm trước, mẹ tôi kiên trì cầu tự, khấn xin, qua các ngôi chùa nổi tiếng vùng Nam Định, Ninh Bình và Hà Đông, mới sanh được mụn con trai. Ngôi nhà nhỏ ở quê lại gần chùa làng. Không nhà nào gần chùa đến thế. Chỉ cách nhau con đường hẻm của xóm gọi là xóm Chùa. Cổng nhà và cổng Chùa hơi chếch nhau, cách nhau chỉ 5 mét. Hồi bé, các chị em tôi hay rủ nhau lẻn sang chùa hái đầy túi quả nhót từ vàng đến đỏ chót, tay áo luôn lấm chấm những hạt trắng li ti do vỏ quả nhót chà vào để lại. Sư bà và sư cô không đuổi còn vẫy vào xoa đầu rồi hái cho những quả táo con con.
Chuông chùa ngân vang dài… và tiếng mõ đều đều, đều đều… là những âm thanh quen thuộc nhất đưa tôi vào giấc ngủ, với những chuyện mẹ tôi kể về thái tử Ấn Độ đi ra 4 hướng cửa thành gặp 4 nỗi khổ đau sinh, lão, bệnh, tử rồi ra đi tìm đường cứu nhân độ thế.
Cho nên mùa thu 2006 này, tôi về làng Mai, trước tượng Phật, nghe tiếng chuông chùa âm vang, tiếng mõ đều đều, ăn chay liền mười ngày, ngắm mái chùa cong cong bên hàng cây mận trĩu quả … cảm giác đầu tiên của tôi, cảm giác kéo dài cho đến khi rời làng luôn là trở về quê mình, làng mình, nhà mình, chùa làng mình.

Có một đạo Phật nhập thế : Làng Mai luôn mở rộng. Từ xóm Thượng xuống xóm Trung là 2 kilômét, xuôi 3 kilômét nữa là xóm Hạ, vòng sang phía Tây 2 kilômét là xóm Sơn hạ. Mấy năm nay, làng phát triển hẳn sang phía Đông gần 40 kilômét, lập nên xóm Mới, rộng hơn, khang trang hơn. Nằm giữa tam giác 3 tỉnh : Dordogne – Lot et Garonne – Gironde miền Tây Nam nước Pháp là một vùng hữu tình, giàu có, nhiều đồi thoai thoải phơi nắng, lại không xa Đại Tây Dương. Vườn nho nối tiếp xen với vườn mận, vườn hướng dương điểm xuyết những vạt rừng thông nhân tạo. Những ngôi Chùa, lầu chuông, thiền đường, cư xá, nhà ăn, nhà khách, khóm trúc, hồ sen… của làng Mai, xen với nhà một số cư dân Pháp bản địa lâu đời, với chuồng trại nuôi bò, lò gạch ngói, nhà thờ Thiên Chúa của làng xưa làm cho phong cảnh của toàn vùng thêm sinh động.
Người gốc Việt tùy lúc chiếm hơn hay kém một nửa dân số làng Mai. Một nửa là người phương Tây về đây tu lâu dài hay tu tập ngắn hạn, 1 hay 2 tuần lễ, từ các tỉnh nước Pháp, từ Ý, Đức, Anh, Bỉ, Hà lan, từ Tây ban nha, Bồ đào nha, từ Mỹ, Canada, Úc, Tân tây lan; ngoài ra có cả người Nhật, Ấn độ, Thái lan, Đại hàn, Philippin, lại có cả người Balan, Nga, Do thái, Palestin… Họ ở phần lớn xóm Thượng. Giữa mùa hè, nhiều gia đình mang theo con lớn nhỏ, nên có cả một xã hội thiếu niên quốc tế ở đây. Rước đèn trung thu, đèn đủ kiểu do các em tự làm lấy, hướng dẫn bởi các ni sư ni cô khéo tay yêu trẻ, kéo dài hàng cây số dưới ánh trăng thu, các em bé tý mới 3 – 4 tuổi dẫn đầu, cuối là các anh chị 16, 18 tuổi, thật hồn nhiên trong tiếng trống và tiếng hát.
Ở trong nước tôi cứ nghĩ người đi tu phần lớn là người yếm thế, chán cuộc đời trần thế, gặp những nghịch cảnh gia đình hay xã hội. Đây cũng có những trường hợp như thế, nhưng có vẻ không nhiều. Khá nhiều người có kiến thức khá cao, thành đạt trong cuộc sống, những bác sỹ, luật sư nhà cao cửa rộng, lương bổng cao, những nhà vật lý, toán học, triết học, giáo sư … muốn đi tìm ý nghĩa từ cuộc sống, của cuộc sống và cho cuộc sống trên đời này. Họ đến đây để nghiên cứu, nghiền ngẫm và thực hành luôn, thực nghiệm luôn, hành đạo luôn đạo Phật, một đạo Phật vừa cao siêu, vừa gần gũi, vứa như khó hiểu vừa dễ cảm thụ bằng cả lý trí, linh tính và trái tim.
Đến đây, ai cũng hiểu sâu 3 viên ngọc quý đầu tiên – ‘’Tam Bảo’’, là Phật, Pháp và Tăng. Phật là một vị tiêu biểu, là Thày dạy, là Ngôi sao chỉ đường, là Lãnh tụ tinh thần, là Nguồn Sáng, thông thường cũng là Bụt, là con người thật do dày công tu luyện được soi sáng thành Phật. Pháp là hệ thống lý luận, chân lý, giải thích cuộc đời và muôn vật, hướng dẫn việc tu luyện, cách sống để con người và loài người có được niềm hạnh phúc, an lạc ngay trong cuộc đời này. Pháp vừa mênh mông vô tận, thiên kinh vạn quyển, lại có thể thu gọn trong 260 từ trong Kinh Bát Nhã, lại cô đọng chỉ trong vài câu, vài từ; ở đây chú trọng việc thực hành, đặc biệt là thực tập theo 5 giới, tức là 5 phép tu tập chánh niệm. Tăng là tăng thân, là tập thể anh chị em gần xa cùng thoát giới đi tu theo chân Phật, ở khắp mọi nơi trên thế giới, cùng chung một bậc Thày, cùng chung một Đạo pháp.
Tôi dự khá nhiều cuộc pháp thoại, thuyết trình về ‘’pháp‘’, nhiều cuộc trao đổi, hỏi đáp ngay ở hội trường – Thiền đường, nhiều buổi thảo luận, tu tập trong các nhóm nhỏ, đều nói về cuộc sống trong đời thường, của cá nhân, gia đình và xã hội. Giống như ở đời thường, không khí sinh hoạt khi thì nghiêm trang đôi lúc căng thẳng, xúc động, có nước mắt, có nụ cười, nhưng nét riêng ở đây là luôn thân ái, chăm chú, thông cảm với nhau, giúp nhau hiểu rõ sự đời trong tình thương. Ngay ở hội trường lớn, mỗi khi tiếng chuông vang, ai nấy đều yên lặng, nghiêm trang, lắng sâu trong suy nghĩ, để rồi sau đó rộ lên tiếng cười vang động, vui nhộn và sảng khoái, thoải mái không cần kiềm chế.
Đạo Phật ở làng Mai là đạo Phật nhập thế, nhập cuộc đời, nên dễ hiểu, dễ gần, dễ tiếp thu. Bài giảng tiếng Việt, dịch tức thời ra các tiếng Anh, Pháp, Đức, cũng như các khẩu hiệu tiếng Việt, châm ngôn tiếng Việt, sách báo, băng đĩa tiếng Việt được dịch và in ngay tại chỗ. Khẩu hiệu đây đó : ’’ Từng bước chân thảnh thơi ‘’, ‘’ An lạc ngay lúc này ‘’, ‘’ Vui với từng hơi thở ‘’, ‘’ Bụt ở ngay trong ta ‘’…
Sáng nghe tiếng chuông vang khi trời đang rạng, hãy ‘’thiền’’ vài phút với lời tự hẹn : Đón chào 24 giờ tinh khôi của ngày mới; tự hẹn sống an vui, có ích cho mình và xung quanh, tránh mọi cám dỗ có hại.
Khi ngồi vào bữa ăn, nghe chuông ngân, hãy ‘’thiền’’ vài phút nữa: ta biết ơn những ai làm nên bữa ăn này, trồng lúa, rau, vận chuyển, chế biến; ta nhớ đến bao người thiếu ăn trên thế gian này; hãy ăn ngon lành, nhai kỹ cho cơ thể ta khỏe khoắn. Trước đó, hãy tự lấy thức ăn vừa đủ cho mình, không thiếu không thừa, lấy bao nhiêu ăn cho hết, không lãng phí, quý trọng mỗi sản phẩm xã hội.

Một đạo Phật cao siêu mà hồn nhiên : Ở làng Mai, tôi gặp mấy chục sinh viên nam nữ Việt từ Sàigòn, Huế, Cần thơ, Luân đôn (Anh), Boston (Mỹ), Sydney (Úc) … đến dự lớp học 1 hay 2 tuần lễ, vào dịp nghỉ hè. Các bạn trẻ làm quen nhau rất nhanh, để lưu luyến vô cùng khi tạm biệt. Họ đều là du sinh, học khoa lịch sử, văn học, thông tin, báo chí. Họ cũng kết bạn nhanh với các sinh viên gốc Mỹ, Anh, Pháp, Canada. Họ cùng nhau tập những bài hát tiếng Việt và tiếng Pháp do các thày cô ở làng Mai sáng tác. Các em mang theo đàn ghi-ta, sáo để chơi nhạc, ca hát với nhau.
Đến đây, các em làm quen với những khái niệm triết học, tâm lý, tâm linh khá trừu tượng, nhiều khi cao siêu, ban đầu khó hiểu. Nhân quả, tương tác, Niết bàn, khoảng không, khoảng rỗng, vô thường, vô ngã, vô minh, không bắt đầu không kết thúc… Hơn nữa, lại còn: ‘’ngũ uẩn giai không’’ là gì; ‘’chư pháp không tướng’’ là gì; rồi những con số: Tam bảo, Tứ diệu đế, Ngũ lực, Lục căn, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên …
Các khái niệm cao siêu được giảng giải theo lối phổ cập dân gian, có ví dụ dễ hiểu, từ thấp lên cao, từ cụ thể đến trừu tượng. Tôi thử hỏi lại 2 em, các em đều hiểu khá rõ. Các bà các chị lớn tuổi cảm nhận được trên đại thể, khi trao đổi với nhau mới vỡ lẽ thêm …
Tôi hiểu dần vì sao làng Mai có thanh niên xuất gia để đi tu cũng như về tu học ngắn hạn nhiều đến vậy. Các em đều có chí, ham học, cảm thấy e ngại cái xã hội xô bồ sùng bái vật chất coi nhẹ tâm linh, nhất là cái xã hội trọc phú đầy cạm bẫy ở bên nhà, luôn đe dọa ‘’nuốt chửng’’ tuổi trẻ bất cứ lúc nào. Các em rất chăm chú nghe pháp thoại, còn ghi chép và thảo luận. Các em cũng thích ca hát, chơi nhạc, đánh bóng chuyền, tập võ thuật, tâp múa gậy trúc – một môn học đặc sắc cho mọi lứa tuổi ở làng Mai.
Ở làng Mai, không khí yên tĩnh kéo dài thỉnh thỏang lại rộ lên những ngày hội tấp nập đông vui, có trống, có cờ phướn, múa rồng múa lân, mừng xuân, trồng cây nêu, giỗ Tổ, Phật đản, lễ Vu lan, những buổi ngâm thơ, ngày Hội hoa Thủy tiên, Hội hoa Mai, Hội hái mận, những ngày hội làng thắm tình quê hương… Tôi dự đám cưới rất vui ở xóm Mới, cô dâu là em một ni cô ở đây, ‘’chàng’’ là bác sỹ cùng ở San José (Bắc Cali) mới sang hôm trước.
Cuộc sống cao siêu khi nghe giảng, khi trầm tư, lúc ngồi thiền, hài hòa với những giờ phút sống hiếu động hồn hiên giữa thiên nhiên. Dự những cuộc múa tập thể và trò chơi tập thể, rồi đêm lửa trại ở xóm Trung và xóm Thượng, tôi thấy rõ thêm vì sao tuổi trẻ thích về đây sống. Có lúc như cuộc sống trong tổ chức Hướng đạo thời trẻ của tôi. Những trò chơi khỏe, hồn nhiên, em bé 8, 9 tuổi cùng cụ già 60, 62 tuổi chơi với nhau, theo vòng tròn lớn nhỏ, bỏ khăn; chim bay, cá lặn; bịt mắt bắt dê; chuyển bóng; kéo co; rồi tìm nhau trong rừng, tìm phương hướng, tìm các chòm sao trên trời, hái hoa hồng để trả lời câu đố và chọn bài hát… Tuổi già về đây như trẻ lại giữa trẻ nhỏ và thiên nhiên. Rồi những vở kịch nho nhỏ tự biên tự diễn. Cái thú vị là nội dung được hướng dẫn và khêu gợi để thực tập chánh niệm, hiểu sâu thêm các buổi học, về cuộc đời của Bụt, về tình thương yêu con người, về cái Thiện và cái Ác, về Chính và Tà, về yêu quý thiên nhiên và gìn giữ môi trường…

Có một đạo Phật nhiều khoa học, ít thần bí: Đã có bao nhiêu trường phái truyền bá đạo Phật. Từ Đại thưà đến Tiểu thừa, từ gốc Ấn độ, Tây tạng, qua Trung hoa, Tich lan, đến Thái lan, Cambốt, xuống Nam dương, sang Nhật bản. Có những trường phái truyền bá những điều thần bí, siêu nhiên, đầy phép thần thông kỳ ảo. Chư thày cô làng Mai đang xây dựng một đạo Phật truyền thống, thịnh hành từ đời Trần, mang đậm bản sắc Việt, lại khá là hiện đại, dựa trên những khám phá mới mẻ nhất về sinh học, vật lý, hóa học, toán học, thiên văn, tâm lý học… để lý giải cuộc sống muôn hình muôn vẻ.
Có cả một lớp trí thức cao cấp xuất gia và về dự tu học ở đây. Tiến sỹ, kỹ sư, bác sỹ, luật sư, nghiên cứu sinh, du sinh chiếm tỷ lệ không nhỏ. Các bài giảng phổ thông, dễ hiểu, có khi mở đầu bằng hỏi và đáp một thiếu niên Pháp hay Mỹ mới 12 tuổi, rất vui vẻ sinh động, hoặc mở đầu bằng thử ngắm cho sâu một chiếc lá phong để ‘’nhìn‘’ thấy trong đó áng mây, mặt trời, giọt mưa, hạt mầm, hệ thống ‘’nhà máy‘’ sản xuất chất lục diệp tố, không quên người trồng chăm sóc cây, để rồi cuối cùng có thể nhận ra cả vũ trụ chứa trong một hạt bụi trần. Kết quả nghiên cứu về tế bào, về ADN, về di truyền, về kỹ thuật tạo hàng lọat cơ thể sống từ một tế bào ‘’clonage ‘’, chứng tỏ trong cái riêng đều có cái chung, cái ‘’một’’ chứa cái toàn thể, phép nhiệm màu bao trùm khắp mọi nơi; con người ngày càng hiểu ra biết bao điều bí ẩn, chế tạo ra biết bao kỹ thuật tân kỳ như máy bay, tàu ngầm, vô tuyến truyền hình, điện thoại cầm tay, kính thiên văn, máy computơ cá nhân, để …’’ngộ’’ ra rằng các nhà khoa học thật ra vẫn chưa hiểu biết gì cho thấu đáo về vũ trụ và con người cả; chỉ một tế bào mà hàng triệu điều bí hiểm.
Hè này có một tuần lễ 800 nhà khoa học và yêu khoa học thuộc 20 nước về làng Mai trao đổi nghiên cứu về tế bào vỏ não, tìm hiểu sâu thêm một loạt khái niệm: xúc cảm, tình cảm, tiềm thức, nhận thức, linh tính và tâm linh, mật thiết liên quan đến những khái niệm Thân và Tâm, rồi : Thọ, Tưởng, Hành, Thức thâm thúy của đạo Phật.
Ở làng Mai không còn những nhận thức thô thiển, như có một Thượng đế, một ông Phật nào đó giống như con người, có đầu mình và tứ chi, sống ở trên trời cao, ngày đêm ban phước lành cho chúng sinh; mà Phật ở ngay trong ta, trong Pháp, trong Tăng, trong ý thiện, việc thiện ta và mọi người cùng làm cho cuộc đời chung đỡ khổ, vun trồng yêu thương và hạnh phúc ở khắp nơi ngay trong cuộc đời này. Phật cũng ở khắp mọi nơi trong một vũ trụ vừa hài hòa theo quy luật chặt chẽ, lại cũng đầy những phức tạp ngẫu nhiên vô thường.
Khoa học ngày nay cũng chứng minh rằng thế giới vũ trụ là không có bắt đầu, không có kết thúc; sự vận động chuyển hóa là không cùng; cái này khác cái kia, cũng lại không khác cái kia; một là tất cả, tất cả cũng lại là một; phải trái trên dưới, một hai, đông tây nam bắc, màu sắc, mùi vị đều là khái niệm chủ quan của con người. Bụt dạy : bất sinh bất diệt, bất cấu (nhơ bẩn) bất tịnh (sạch), bất tăng bất giảm; vô vô minh diệc vô vô minh tận (không có ngu dốt mà cũng không bao giờ hết ngu dốt); vô lão tử diệc vô lão tử tận (không có già và chết, mà cũng không hết già và chết). Khoa học và phật giáo gật gù tâm đắc, khoác vai nhau chặt. Thật là vui, thú vị.

Một đạo Phật đi vào cuộc đời -Hoạt cảnh mừng Thầy 80 tuổi-
Có một đạo Phật lạc quan yêu cuộc đời này : Đã có thành kiến cho rằng đi tu là chịu khổ hạnh. Có nhiều trường phái tu khổ hạnh, hành xác, đi chân đất, nhịn đói, chịu khát, nằm gai nếm mật, chịu rét, từ chối nền văn minh vật chất, chịu khổ để cứu nạn.
Ở đây có sự khổ luyện, sự kiên trì thoát phàm tục, tinh tiến tâm linh, nhưng không khổ hạnh hành xác. Các thày cô ở đây được luyện để yêu đời, quý trọng cơ thể mình, cảm nhận hạnh phúc nội tâm cho mình và cho xung quanh trong mỗi một phút sống. Nụ cười làng Mai sao mà đẹp. Nụ cười ngầm, hơi tủm tỉm khi gặp nhau, nhìn nhau, như nói rằng : chúng ta là anh chị em! Buổi sáng khi mới gặp lại nhau, mọi người chắp tay trước ngực, hình búp sen bên trái tim, như một lời chào thân, trao tặng nhau một búp sen thơm mát. Người phương Tây về đây cũng vui lòng tiếp nhận cách bắt tay, cách ôm chào nhau chân thật: nhìn vào mắt nhau với tình anh chị em, ôm nhau cũng nghĩ đến nhau thật lòng, xoa tay nhẹ vào lưng nhau nếu tự thấy cần; không còn kiểu bắt tay qua loa, áp 2 bên má một cách qua quít, có khi vô cảm. Các ni cô gọi đây là ‘’thiền ôm’’, ôm với tình thương chân thật; tất nhiên các ni cô trẻ chỉ ôm với người cùng giới.
Nét đậm đà của làng Mai là thức ăn chay mà ngon chi lạ, ngon lạ lùng. Các ni cô, ni sư rất coi trọng khoa nấu nướng, nâng bếp núc thành khoa học và nghệ thuật cao. Vệ sinh thì tuyệt hảo. Vườn rau tự túc sạch tuyệt đối. Từ rau muống, bắp cải, rau cải, rau cần, cà chua, cà rốt, đến bầu, bí, dưa chuột, mướp đắng, rau thơm : mùi, húng, tía tô, thìa là, diếp cá, bạc hà… cho đến hành, gừng, giềng… Đủ thứ, như ở quê mình, tươi ngon. Các thày cô nhà bếp luôn nói đến ngon lành, ngon đi với lành. Lại còn cân bằng âm dương, theo mùa, thứ này đi với loại rau kia, hỗ trợ bổ xung cho nhau, bổ dưỡng lại ngon miệng. Đậu phụ hấp, ninh, rán, sào với các thứ rau khác nhau, với biết bao loại đậu, loại khoai, sắn, giá, nấm… làm cho thức ăn phong phú, không bữa nào giống bữa nào suốt trong một tuần. Nộm và nước chấm cũng nhiều lọai, cùng vừng, lạc, dấm, dầu ô–liu, gừng, sả. Cơm, xôi đủ loại, bánh mì, cháo… tha hồ lựa chọn. Người phương Tây có thể dùng bơ, pho mát, sữa bò, trứng (loại không ấp thành gà con được).
Chè và bánh do các bà các chị người Huế hướng dẫn sao mà phong phú, tinh tế, ngon lành đến vậy. Từ chè hạt sen, đậu xanh, đậu ván, đậu đen đến bánh bột lọc, bánh giò, bánh xèo, bánh xu xê, bánh Trung thu…
Điều chính ở đây là quan niệm của Phật pháp nhập sâu vào bộ máy hậu cần và nuôi dưỡng con người. Hãy chăm nom thật tốt cơ thể chúng sinh, hãy mang chánh niệm từ khi trồng rau, tưới cây cho đến khi rửa sạch lương thực để chế biến; hãy mang chánh niệm vào mỗi nhát dao thái củ khoai củ cà rốt cho đều đặn, vuông vắn, mỹ thuật. Hãy mang chánh niệm vào việc nấu nướng để thấu hiểu rằng biết bao công sức của con người làm nên gạo, khoai, rau đậu này đây, ta phải nối tiếp để phục vụ lại cho chúng sinh đến mức cao nhất, cho mọi người ăn thật ngon lành để làm điều thiện cho đời này.
Các ni cô và ni sư – hơn 100 người tu ở đây, phần lớn là còn trẻ, dưới 36 tuổi, gọi nhau bằng sư bác, sư chú, sư cô hay sư anh, sư chị, sư em, như trong một nhà. Mỗi người còn nhận một người cùng tu làm « đệ nhị thân » người bạn có vai trò nhắc nhau chuyện tu học, chuyện giữ gìn sức khỏe, có bổn phận cho tăng thân lớn biết khi bạn mình ngã bệnh mà một mình mình không đủ sức giúp được. Thường là sư cô A có đệ nhị thân là sư cô B, sư cô B lại có đệ nhị thân là sư cô C, sư cô C lại có đệ nhị thân là sư cô H, sư cô H lại có đệ nhị thân là sư cô A. Như vậy một người ngã bệnh là toàn chúng được biết và sẽ giúp nhau mà không cần phải mỗi việc mỗi hội họp. Các vị cư sĩ về làng tránh phạm giới, trước hết là 5 giới [1] gồm có: không sát sinh, không ăn cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu và dùng ma túy… Có những cuộc pháp đàm về giới để giúp nhau đi về hướng chân thiện mỹ của năm giới mà ờ Làng hay gọi là năm phép tu luyện chánh niệm.
Không khí an nhiên tự tại ở làng Mai còn được xác lập tự nhiên, bền vững vì trong cư xử hàng ngày, nội bộ gia đình lớn này thường nhắc nhau dùng ‘’ái ngữ‘’, tránh dùng những từ ngữ khó nghe. Tôi hỏi mấy thầy: như vậy có phải là bỏ qua, nhân nhượng với nhau khi có mâu thuẫn để giữ hòa khí ?. Thày Pháp Ấn là 1 trong 13 giáo thọ ở làng Mai nói ngay: không phải vậy; pháp đạo, kỷ luật ở làng Mai nghiêm, không bỏ qua sai lầm, vì bỏ qua là có hại cho anh chị em mình, là thiếu thương yêu nhau; ‘’ái ngữ‘’ là lời nói xuất phát từ yêu thương, đã từ yêu thương thì sẽ được tiếp nhận vào tim người mình nói chuyện, không phải chỉ là chọn hình thức chữ nghĩa cho êm tai. Khi nóng mặt lên, tức giận, thở gấp thì không thể có ‘’ái ngữ’’. Khi tỉnh táo, thở sâu, có tình thương lập tức có ‘’ái ngữ’’ đầy sức thuyết phục dù nội dung có mạnh.
Không khí lạc quan yêu đời trẻ trung ở làng Mai còn bao nhiêu biểu hiện khác. Bên dàn đồng ca, cùng niệm kinh Bụt bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức, còn cùng hát ca nhiều bè, còn có nhóm diễn kịch ngắn, tập đàn dương cầm, đàn guita, thổi sáo, còn xưởng nhỏ tập nặn tượng, vót tre làm diều, nhóm phụ trách mầm non, mẫu giáo, thiếu nhi, nhóm hội họa, chụp ảnh, đánh cờ, – cờ tướng và cờ quốc tế, cho đến lớp học tiếng Việt… Thật vui khi được nói tiếng Việt với các ni cô Từ Nghiêm (người Mỹ), Tín Nghiêm (Đại Hàn), với thầy Pháp Ý (người Ý), Pháp Sơn (Tây Ban Nha), Pháp Hộ (Thụy Điển)… Nhiều người nói sõi như người Việt mình vậy.

Có một đạo Phật rất dân tộc cũng khá hiện đại : làng Mai có một thư viện khá lớn. Riêng Thiền sư Nhất Hạnh có tủ sách riêng đồ sộ, tiếng Pháp, Anh, Đức, Ân độ, Nhật, chữ Hán, chữ Phạn, chữ Nôm, tư liệu về lịch sử Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa, về lịch sử Phật giáo Việt nam từ xa xưa qua thời Lý, Trần đến nay. Nhiều kinh sách được lược dịch hoặc tóm tắt chuyển sang tiếng Việt. Bút lực của Thày Nhất Hạnh sung mãn, có đến hơn 80 cuốn tiếng Việt do nhà xuất bản Lá Bối phát hành, cùng với những tập thơ thiền, một số bài thơ được phổ nhạc. Nét dân tộc khá rõ nữa là việc gắn bó việc thờ cúng tổ tiên với đạo Phật ở làng Mai này.
Nét hiện đại của làng Mai cũng rất rõ. Giờ giấc nghiêm đến từng phút. Sáng dậy đúng 5 giờ rưỡi khi chuông lớn vang lên. Đúng 8 giờ rưỡi buổi giảng trên hội trường bắt đầu. Giảng bằng tiếng Việt, hoặc tiếng Pháp, Anh, tùy theo ngày, được dịch ngay sang các tiếng khác. Ngoài những loa đặt các góc phòng còn có loa tại các phòng nhỏ hay tại các cụm di động có mái che trên bải cỏ ngoài sân rộng, khi người dự quá đông. Các buổi pháp thoại đều được ghi bằng hình ảnh và âm thanh, buổi tối được nhân bản vào băng, vào đĩa để phổ biến ngay sáng hôm sau. Bộ phận ngoại ngữ và kỹ thuật có trình độ chuyên nghiệp cao, tháo vát, cập nhật với kỹ thuật truyền thông hiện đại quốc tế.
Văn phòng làng Mai cũng khá là chuyên nghiệp. Kế hoạch dự kiến cho cả năm, phân công cụ thể, có thời gian biểu hàng tuần cho từng xóm. Khách đến và đi thường xuyên, bằng đủ phương tiện, xe riêng, xe lửa, xe buýt, máy bay, đón và đưa, đâu ra đấy. Thư đến và thư đi, email gửi và nhận tới tấp. Quan hệ với chính quyền địa phương, các quận, các tỉnh và thành phố Bordeaux rất chặt. Từ sản xuất, vận chuyển, bưu điện, thuế khóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện nước, đường sá cầu cống, xây dựng, quản lý đất rừng… đâu có đơn giản. Bác Cả, hơn 70 tuổi người có công thăm dò, quy hoạch và xây dựng làng Mai từ những năm 1986, 87 cho biết những gian khổ ban đầu về mua đất, đo đạc, dựng nhà, cung cấp điện nước đến công trình vệ sinh, cống rãnh được khắc phục dần để có được cơ ngơi ngày nay.
Nét đẹp hiện đại, tiên tiến nữa tôi nhận ra ở đây là an ninh rất tuyệt. Người tứ phương đến tấp nập. Thế mà hầu như không có mất mát, trộm cắp, hàng chục năm nay vẫn vậy. Ở mỗi xóm có một góc đặt các thứ để quên, đánh rơi : mũ dạ, ô, dày, dép, kính mắt, bút, cả túi , ví tiền (với tiền mặt, thẻ ngân hàng, thẻ căn cước được giao lại cho người chủ ) cặp, sách, túi lớn nhỏ, một vài đồ trang sức.
Tôi nghĩ đạo pháp nhập vào mọi người, điều giới thứ 2 (không ăn cắp) được thấm sâu, chúng ta là anh chị em thân thiết, hãy sống tốt, vun trồng điều thiện, tưới tắm hạt nhân trong sạch nảy nở trong lòng ta. Anh bạn nhà báo đi với tôi thủ thỉ : ‘’thích thật, ở đây ngủ không cần đóng cửa, cả xóm không cần canh gác tuần tiễu, đồ đạc riêng để đâu yên đấy, không ai nhòm ngó đụng vào. Bao giờ cho mỗi làng mạc quê ta trong nước sống như thời Nghiêu Thuấn, như ngay làng Mai này ! Cần gì đến chó Bécgiê, chuông báo động, máy quay phim dọc hàng rào và cổng ra vào. Thế này mới thực là hiện đại ‘’.
Người phương Tây và trí thức trẻ gốc Việt sống ở đây tô đậm thêm tính hiện đại của làng Việt độc đáo này. Sách báo về khoa học tự nhiên và xã hội có nhiều người đọc. Mạng internet ‘’làng Mai‘’ là mạng phong phú, kỹ thuật và mỹ thuật cao, lưu trữ tốt cả hình và tiếng, đứng hàng đầu trong làng mạng tiếng Việt. Các ni cô tiến sỹ, giáo sư, thạc sỹ, các ni sư cử nhân, bác sỹ, kỹ sư… ở đây đang cùng nhau học chữ Hán nôm, học tiếng Phạn, đọc thơ ca đời Lý Trần và nghiên cứu kho tàng ca dao Việt để cùng nhau trở về với dân tộc và đưa tâm linh dân tộc phát triển tới phía trước.
Đạo Phật và thái độ đối với những người cộng sản : Nhiều lần tôi hỏi chuyện các thầy cô ở đây về mối quan hệ giữa đạo Phật và đảng cộng sản. Các thầy cô phát biểu rất dè dặt thận trọng. Một thầy đọc khá nhiều sách mác-xít, từng học về lịch sử đảng cộng sản tại trường đại học sư phạm trong nước, cho rằng: « chúng tôi luôn coi những người cộng sản cũng là những anh chị em mình trong gia đình dân tộc và cộng đồng loài người. Dù học thuyết họ theo đuổi đã từng ‘’vô minh‘’, từng bắt các linh mục tu sỹ đi cải tạo, thực tế bắt làm khổ sai, phá đình chùa, quẳng tượng Phật xuống ao, nay họ đã có được ít nhiều ’’tuệ giác’’ đối với tôn giáo. Làng Mai đề ra việc đối thoại và cầu nguyện với chính quyền và đảng cộng sản; đối thoại để nói thẳng thắn những điều cần nói không e sợ, quanh co; cầu nguyện là cầu nguyện chư Phật soi sáng cho mọi người cộng sản, nhất là những người cộng sản cầm quyền, làm nảy nở Phật tánh dù còn ít trong tâm họ, cho họ biết noi gương các nhà cầm quyền thời Trần, yêu thương và quý trọng người dân, dựa vững vào đạo đức và cuộc sống tâm linh… Chúng tôi cho rằng phục hưng đất nước phải do cả dân tộc cùng làm, theo nhiều giới nhiều cách khác nhau, mỗi người chung một tay, nhà chính trị, nhà lãnh đạo tôn giáo, nhà dân chủ, trí thức, kinh doanh, trong và ngoài nước, cùng dựa vào gốc dân tộc ».
Tôi gặp anh bạn nhà báo F.Prévost ở làng Mai từ nước Bỉ đến, để tu tập chứ không để viết báo. Anh thuộc cánh tả, từ tuổi trẻ đã mê Staline – ‘’người cha của các dân tộc’’, mê ông Mao, ông Hồ, là đồ đệ của Bertrand Roussel và Jean Paul Sartre, để rồi vỡ mộng cay đắng trước cả khi bức tường Berlin vỡ tan. Nay anh tìm hiểu sâu đạo Phật, vốn có khiếu trào lộng, so sánh ‘’đạo Cộng‘’ với đạo Phật, cộng sản cũng có Phật, Pháp và Tăng của họ. ‘’Phật’’ là Marx, ‘’Pháp’’ là học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, ‘’Tăng’’ là đảng viên cộng sản đông đảo khắp nơi. Theo anh, Cộng sản là ‘’đạo Phật lộn ngược’’, đầu cơ lòng thiện của con người để hứa hẹn một thiên đường nhân ái bốn bể là anh em, không có bóc lột, đầu cơ nguyện vọng độc lập dân tộc không bị nô dịch, để dành độc quyền thống trị con người từ tinh vi đến đẫm máu nhất. Anh nói đến học giả Jean François Revel (mới mất tháng 4-2006 ở tuổi 82) triết gia uyên thâm của cánh tả Pháp đã tỉnh ngộ để chủ biên cuốn sách đồ sộ ‘’Sách đen của chủ nghĩa cộng sản’’, với thống kê hơn 100 triệu sinh mạng chết thê thảm từ các cuộc thanh trừng, trại khổ sai, trại cải tạo, cách mạng văn hóa vô sản, quét sạch tôn giáo, những vụ án vu cáo gián điệp, phản động… Anh nói đến cái ‘’nghiệp’’ quá nặng của người cộng sản, đến nay nhiều người vẫn còn trong ‘’mê lộ ‘’, chưa chịu tỉnh …

Có một đạo Phật có sức lan tỏa : Tôi gặp một số cán bộ, đảng viên cộng sản từ trong nước về đây tu tập, tìm hiểu. Có người là giáo sư đại học, là cán bộ từng làm việc trong ủy ban kế hoạch nhà nước, là sinh viên đoàn viên đoàn thanh niên cộng sản. Có chị là đảng viên, chồng là trung tướng quân đội nhân dân về hưu, vốn là cấp dưới tướng Trần Độ. Duyên hạnh ngộ bắt nguồn từ chuyến về thăm quê hương của tăng thân làng Mai đầu năm 2005. Có ni sư đến từ Huế và Bảo lộc (Lâm đồng) về đây học, tự coi là về nguồn để tu tập.
Quả vậy, hạt giống tự làng Mai đã gieo và mọc ở vùng cố đô Huế, vùng Bảo lộc với các chùa Từ Hiếu và tu viện Bát Nhã, cả trên đất Hoa kỳ, nơi có chùa Lộc Uyển (ở Nam Cali), Đạo tràng Thanh Sơn và Tu viện Rừng Phong (ở bang Vermont). Lại còn nhiều tập thể, nhóm cư sĩ làng Mai, rải rác trên đất Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Canada, Nhật, Nga, Thái lan, Hàn quốc, Do thái, Palestine, Hongkong, Brésil, Argentine, … và cả ở trong nước.
Riêng số xuất gia nhập tăng thân làng Mai nay đã lên hơn 300. Số đang xin nhập còn nhiều. Số cư sĩ, dự tu tập hàng năm, theo từng mùa từng khóa không kể hết.
Các thày làng Mai đã tổ chức những cuộc Pháp thoại và Thiền hành ở Roma, Florence ở Ý Đại Lợi và Londres, ở Edingburg Tô Cách Lan, Marseille và New York, ở Hàng Châu, Bắc Kinh (Trung quốc)…. nữa, và tháng 10 này ở giữa Paris.
Bí quyết của sự lan tỏa từ làng Mai là những nét đặc sắc của một đạo Phật trở về với chính gốc gác của mình, cởi bỏ những thần bí quá siêu nhân để về với nhân thế trần gian, với mỗi bước chân thảnh thơi, nụ cười hé nở trên đôi môi, búp sen tinh khiết bên trái tim, bữa ăn luôn ngon lành, giấc ngủ luôn an bình, thế ngồi luôn vững chãi trên niềm tin.
Bí quyết của làng Mai còn là sự hòa hợp giữa các tôn giáo, coi các tôn giáo đều là anh em, không tranh dành, đố kỵ, đối lập nhau. Bouddha, Jésus, Mahomet đều là anh em. Ở làng Mai có linh mục Công giáo, có mục sư Tin lành, có người theo đạo Do thái, Ấn độ giáo, Anh giáo, không nhất thiết từ bỏ hẳn tôn giáo của mình, vẫn có thể tu tập Phật giáo. Từ làng Mai đã có sáng kiến một cuộc gặp các nhà lãnh đạo cao nhất các tôn giáo để cùng cất lên nguyện vọng hòa bình của thập đại chúng sinh, góp phần dập tắt ngay các lò lửa chiến tranh – những địa ngục phi lý trên trần gian tuyệt đẹp này.

Một đạo Phật không làm chính trị ? Về làng Mai, các thày và cô thường nói ‘’chúng tôi không làm chính trị’’. Có lúc các thày nói : ’’làm chính trị, xin để dành cho các nhà chính trị ở ngoài đời, chúng tôi chỉ chuyên lo về chuyển hóa con người‘’.
Hỏi chuyện các thày cô, trao đổi tâm tình với thày Nhất Hạnh, thỉnh thoảng tôi lại cười thầm một mình khi nhớ lại câu ‘’chúng tôi không làm chính trị ‘’. Đây chỉ là một cách nói, có lẽ chỉ đúng trên một ý nghĩa nào đó. Thật ra người Làng Mai được khuyên không làm loại chính trị tranh giành quyền bính, không theo phe phái nhưng mọi người đều tu tập chuyển hóa tự thân và chuyển đổi mọi người chung quanh cũng là một cách làm chính trị.
Nhớ lại hồi chiến tranh, nhóm Phật giáo phản chiến, chống huynh đệ tương tàn, bị 2 bên lên án, bên quốc gia coi là đâm sau lưng chiến sỹ, bên kia coi chống chiến tranh cách mạng là tay sai đế quốc. Kẹt cứng giữa 2 làn đạn. Nhưng không thể nào khác. Chiến tranh là sát sinh mà người tu thì luôn luôn tôn trọng sự sống của từng con vật, huống chi là sự sống của con người và những con người đó lại là đồng bào anh em cùng giống Lạc Hồng; mà người Việt mình giết nhau nhiều nhất, lâu nhất, hăng say nhất. Hơn 1 triệu người Việt giết chết nhau suốt 30 năm, còn chưa đủ ? Từ đâu ‘’vô minh‘’,‘’tà kiến’,’’cuồng sát nhau ‘’,’’kéo nhau vào hỏa ngục’’ lâu và sâu đến thế ? Thế hệ trẻ vẫn còn chất vấn cha ông mình.
Với tò mò của nhà báo, tôi hỏi chuyện các thày cô về chuyến hồi hương đầu năm 2005. Các vị chức sắc của làng có vẻ thận trọng, vì đang còn tính đến chuyến đi thứ 2 dự định trong 77 ngày (11 tuần lễ) đầu năm Đinh Hợi (2007) đang được chuẩn bị; tôi hỏi quý thầy cô có ý kiến cho rằng đoàn đã bị chính quyền trong nước lợi dụng trong chuyến đi? Trả lời : ’’Chúng tôi biết chuyện đó. Nhưng chúng tôi nghĩ khác. Chẳng lẽ dư luận quốc tế ngày nay lại nhẹ dạ, đơn giản đến vậy sao. Có ai chỉ lấy một chuyến đi để đánh giá về tự do tôn giáo của một chính quyền trong cả một năm; nghĩ thế là lầm to‘’. Vậy làng Mai có coi đó là một chuyến hành hương thắng lợi ? Trả lời : ‘’Có chứ. Chúng tôi không dám chủ quan, nhưng thật ra vượt quá hy vọng ban đầu. Các buổi pháp thoại càng về sau càng đông. Chúng tôi in ra đĩa, năm mươi ngàn đĩa -những bài đã giảng trong chuyến đi- nay còn đưa về trong nước mấy bài mới để in thêm’’. Mấy thày làm báo Lá thư làng Mai nói thêm :’’Vui là nhiều quan chức cộng sản cấp cao ở các bộ, các viện, giáo sư đại học, sinh viên khá là đông chăm chú nghe, có vẻ mở lòng tiếp nhận, còn tỏ ra còn khát …’’. Xưa nay họ có cái tưởng quá sai lầm về Phật giáo. Đây là lần đầu tiên tiếp xúc được với loại đạo Phật khác với đạo Phật của Giáo Hội Nhà Nước.
Một cư sỹ trí thức làm việc ở Lyon (Pháp) từng tham gia tăng đoàn làng Mai về quê cho tôi rõ thêm : ‘’Các buổi pháp thoại cuối ở Hànội đông ngẹt. Sự đồng cảm tăng lên. Sư Ông cao hứng nói vui : tăng thân làng Mai chúng tôi không ai có xe riêng, có tiền riêng, điện thoại riêng, nhà riêng mà sống yên vui, yêu thương nhau, có hạnh phúc, chúng tôi mới thiệt là cọng sản !… Cả hội trường vỗ tay rất lâu khi thày nói rằng người cộng sản, người làm chính trị khi cầm quyền rất cần có đạo đức và cũng rất cần có cuộc sống tâm linh‘’.
Giữa tăng thân làng Mai và chính quyền cộng sản có điều gì căng thẳng không. Tôi được biết những cuộc thương lượng về chuyến trở về kéo dài từ năm 1997 với nhiều nhân sĩ các nước như Pháp, Hòa Lan, Hoa Kỳ rồi mới trở lại từ đầu năm 2004, không ít lúc căng, có lúc tưởng như không thành. Nhờ cái duyên – Bụt cho chăng, hay là nhờ tổ tiên Việt Nam thấy không thể bỏ rơi 80 triệu con cháu Việt chỉ nằm trong tay tập đoàn thiếu đạo đức nên đã thành. Đó là khi họ gặp khó trong quan hệ với các nước và công luận quốc tế cũng như với dư luận trong nước, về vấn đề tôn giáo, họ phải điều chỉnh chính sách. Nói thẳng ra là họ không thể cứng mãi, họ buộc phải tính đến chuyện để một đoàn lớn tăng thân áo nâu về thuyết pháp từ Bắc vào Nam; để đoàn đem sách về đạo Phật về cũng như không kiểm duyệt trước nội dung các buổi pháp thoại.
Theo tin tôi nhận từ 62 đường Boileau – Paris (sứ quán Việt nam), ‘’sứ thần’’ làng Mai đến đây thương lượng về chuyến đi là ‘’nhà ngoại giao đáng nể’’. Mềm mỏng trong đối xử, khá cứng cỏi trong nội dung. Việc tăng đoàn ‘’đến viếng lăng’’ một vấn đề khá nhạy cảm cuối cùng họ chịu để buông lửng, không ghi vào chương trình. Cho đến khi những ngày cuối ở Hànội, đoàn ghé thăm Chùa Một cột xong, người hướng dẫn ‘’lơ đãng‘’ dẫn sang phía lăng ngay sát đó, đoàn vẫn lặng lẽ đi ra nơi đậu xe. Coi như xong, không căng thẳng, rồi không bên nào nhắc đến nữa…
Khéo thật, tôi nghĩ, thế là không làm chính trị chăng. Một loại chính trị vừa mạnh mà đủ khéo, đủ từ bi để cho chính quyền đủ bực nhưng không mất mặt lắm ?!

Đề nghị 7 điểm với cái nhíu mày tạm biệt : Anh bạn nhà báo từ Hànội sang Paris kể cho tôi ngày cuối đoàn làng Mai ở Hànội, Thiền sư Nhất Hạnh gặp từ biệt Thủ tướng Phan Văn Khải, không khí hòa dịu nhẹ nhàng, nhưng ít ai biết có mấy phút khá căng, khi Thày đưa bản đề nghị 7 điểm về ‘’Chính sách của nhà nước Việt nam đối với Phật giáo ‘’.
Nội dung trước hết là: tách rời tôn giáo với chính quyền, không có quyền can thiệp vào nhau. Các vị xuất gia sẽ không là dân biểu quốc hội, thành viên của hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc hay của một đảng phái nào, cũng không nhận huân chương của chính quyền; làm như thế là phạm giới.
Hai là nhà nước mời những vị tôn túc trưởng lão Phật giáo làm cố vấn cho ngành lập pháp và hành pháp để tháo gỡ những khó khăn, hàn gắn những đổ nát, xây dựng tình huynh đệ trong cộng đồng Phật giáo, thiết lập truyền thông với nhà nước. Danh sách các vị được mời : Hòa thượng Trí Quang, Trí Tịnh, Nhật Liên, Huyền Quang, Quảng Độ, Phổ Tuệ…
Các điểm tiếp theo là : nhà nước và tôn giáo chung sức xây dựng đạo đức văn hóa, chống tham nhũng và tệ nạn xã hội, cấp hộ khẩu cho giới tu hành, phục hoạt Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất cùng hoạt động của các tôn giáo khác tự do như ở các nước tự do, nước nào cũng có nhiều Giáo Hội Tôn Giáo hoạt động thoải mái tự do.
Yên lặng và buổi tiếp kết thúc trong xã giao. Thông tấn xã nhà nước và báo chí trong nước nhận nghiêm lệnh không được công bố 7 điểm.
Thày Pháp Ấn cho tôi biết một điểm son của cuộc hồi hương là những cuộc chan hòa anh em giữa các giáo đoàn khác nhau, trong và ngoài nước, Giáo hội Phật giáo Việt nam với Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, áo nâu xen với áo vàng, Bắc, Trung, Nam hòa hợp, cùng trò chuyện, cùng thiền hành, cùng tụng giới, tiêu biểu nhất là ở Huế có hai nhóm tỳ kheo vốn giận nhau. Từ 13 năm nay, không tụng giới chung, một nhóm tụng giới ở chùa Từ Đàm và một nhóm tụng ở chùa Linh Quang, khi Sư Ông Làng Mai về thì hai nhóm lại đồng ý tụng giới chung mỗi tháng hai lần như truyền thống vẫn làm từ mấy trăm năm. Điều đó đã làm ấm lòng Phật tử Việt Nam trong toàn quốc và toàn thế giới.
Làng Mai yên tĩnh… Mùa thu 2006 này, làng Mai từ ngoài nhìn vào vẫn yên tĩnh như một làng quê Việt nam thời xa xưa. Hôm nay lại là ‘’ngày làm biếng‘’. Những ngày ở Làng Mai có vẻ như rất là bận rộn, khóa tu nầy tiếp nối khóa tu kia như các lớp học, hội thảo, tiếp khách thập phương, các ngày hội làng. Để giữ không khí không bao giờ căng thẳng dù bận rộn mấy thì mỗi tuần ở Làng Mai đều có một ‘’ngày làm biếng ‘’, cho mọi người thức dậy muộn, nằm nghỉ ngơi, tắm, giặt, đọc sách, viết thư riêng, thăm nhau, đi dạo. Mỗi thành viên mỗi tháng có 40 Euro tiền bỏ túi, tiêu vặt; theo giá tiền ‘’đồng’’ trong nước bằng 800.000 đồng, là khá lớn, nhưng ở đây vừa đủ để mua tem, thẻ gọi điện thoại, thiếp chúc mừng, bưu ảnh, chiếc kem, gói kẹo chocolat, túi vải, cuốn sách, bút mực, bàn chài và kem đánh răng…
Thật ra ở Văn phòng làng Mai, các thày cô đang thức khuya dạy sớm, dồn dập công việc. Nhóm tu sĩ Làng Mai như được đào luyện trong trường bách khoa của cuộc đời. Dù anh hay chị có sức học thật cao hay thật thấp ở ngoài đời khi chưa tu, nhưng khi đi tu thì tất cà đều được luân phiên trong nhiều nhóm : nhóm nầy làm việc văn phòng, nhóm kia lái xe, nhóm nọ nấu cơm, làm tàu hủ, trồng rau sạch, làm vườn, lo dọn rừng, dọn cỏ, trồng sen… nhóm khác lo thiền đường, Việc chuẩn bị cuộc hành hương thứ hai vào đầu năm Đinh Hợi (2007) đang rất khẩn trương. Danh sách tăng đoàn, giấy tờ, hộ chiếu, visa. Làm việc với sứ quán Việt nam, với Sứ quán Pháp ở Hànội, đặt khách sạn cho thiền sinh cư sĩ, xin cho tăng thân tu sĩ tá túc ở các chùa từng Miền… Kế hoạch cho từng ngày của 77 ngày hồi hương, theo chủ đề:’’Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn‘’. Nội dung chính của cuộc trở về này vẫn là hoằng pháp, với một việc quan trọng là tổ chức Đại Trai Đàn, cầu siêu trong cả nước cho tất cả những người Việt anh chị em ta chết trong hơn nửa thế kỷ qua, không kể đứng bên chiến tuyến nào, dưới lá cờ nào, theo đảng phái hay tổ chức chính trị, tôn giáo, địa phương nào. Một cuộc cầu siêu chân thành, sâu sắc. Tôi mong dịp này ai có người thân chết trên biển cả, hay chết trong tù, ngoài Côn Đảo, dưới bom đạn… xin thông tin cho biết tên tuổi, ngày và nơi bị nạn trên biển để làng Mai có thể thống kê và lên danh sách cầu siêu, từ đó may ra biết rõ thêm về sự kiện bi thảm này, vì hiện ước lượng quá xa nhau, từ 20 ngàn đến 500 ngàn, con số nào gần sự thật.
Lại còn việc theo dõi bộ phim ‘’Đường xưa mây trắng‘’ sẽ tiến hành ra sao để lột tả đúng hoặc gần đúng cuộc đời của Bụt, tải được đạo pháp thâm thúy mà tự nhiên, tránh thần bí hóa và chạy theo thị hiếu, nhưng lại hấp dẫn người xem. Việc này không đơn giản, vì bộ phim lớn này sẽ có thể quay với ngoại cảnh ở Ấn độ, Thái lan, Việt nam và Mỹ… ??? Nhân vật đông, nhiều vẻ, cần khung diễn viên có tài nhập vai thật đạt, sống động, tả được cả tăng đoàn theo Bụt lên đến 1.250 đệ tử, với cuộc sống trong rừng rậm, cả một thế giới động vật : voi, hổ, hươu, nai, cừu, trâu, bò, rắn, trăn, cá sấu, thỏ, sóc, thiên nga, phượng hoàng, gà, vịt, chim sẻ, công, sáo… và thiên nhiên hùng vỹ : thác đổ, đồng cỏ, sông Hằng kỳ vỹ, núi tuyết Hymalaya, bầu trời sao và mây trắng …đều có ‘’vai diễn‘’ trong phim.
Ngay trước mắt đoàn tăng thân làng Mai sẽ thiền hành giữa thủ đô Paris ngày chủ nhật 22-10 sau cuộc nói chuyện ở Hội trường lớn Mutualité tối 21-10.

Thật là duyên hạnh ngộ đẹp cho tôi được trở về làng Mai mùa thu năm nay. Cuộc đời còn lại của tôi mang dấu ấn cuộc hành hương ngắn ngủi này. Tự tin hơn, yêu đời hơn. Ăn thức ăn đơn giản mà ngon lành hơn. Tim bị bệnh vì đập thất thường nay ổn định khác hẳn trước. Danh lợi hão huyền coi nhẹ từ 16 năm tan biến hẳn như sương khói. Tôi hết đỏ mặt cao giọng khi tranh luận. Tôi tin hơn ở con đường phi bạo lực, quý trọng gấp bội các chiến sỹ dân chủ trong nước gan góc kiên trì lẽ phải, sự thật và điều thiện, đang nêu gương cho các đảng viên cộng sản còn mê muội sớm từ bỏ tà đạo.
Tạm biệt làng Mai thân thiết, tôi nhớ đến lời Bụt nói với chú bé chăn trâu paria / tiện dân : ‘’con ạ, có những điều đông đảo người tin từ lâu là lẽ phải, vậy mà là tà kiến đấy ! ‘’. Đó là tà kiến coi tầng lớp paria nhơ nhớp hơn trâu chó, ai đụng vào họ là bị nhiễm bẩn không sao gột rửa. Như tà kiến gần đây coi đấu tranh giai cấp và bạo lực là thiêng liêng (!), là động lực thúc đẩy xã hội (!), như tà kiến hiện tại coi độc quyền một đảng là chân lý vĩnh cửu (!), bất chấp giá trị dân chủ hiển nhiên của thời đại, bất chấp những kêu gào bất công và oan ức ngút ngàn, ngày đêm vang lên từ ngàn vạn dân oan khắp nông thôn và thành thị quê ta.
Đạo Phật phải canh tân, đạo Phật phải trẻ lại nhờ có tâm linh hùng mạnh sâu sắc, sẽ biết cách mở ra những cái thấy cạn cợt, cục bộ sai lầm và biết cách khéo léo chửa trị bằng cách thổi làn gió tâm linh vào tâm vô úy (không sợ hãi) mà từ bi của mọi người. Các lực lượng dân chủ và dân tộc nếu có được đời sống tâm linh sẽ kết hợp được, sẽ đấu tranh chính trị với phục hưng văn hóa, bồi dưỡng tâm linh, đẩy lùi tà đạo và tà kiến, độc đảng và bạo quyền, mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt nam luôn quý điều Thiện, chuộng tình huynh đệ, nghĩa đồng bào.
Bùi Tín
Paris. 18/10/2006.

——————————
[1] Ví dụ :Giới thứ nhất : Vì chánh niệm thấy sự giết chóc đưa tới khổ đau, tôi quyết định tránh giết chóc và tìm nhiều cách bảo vệ sự sống, Giới thứ hai : Vì chánh niệm thấy nhiều bất công xã hội, tôi quyết không lấy làm tư hữu những gì không phải của tôi, mà còn cho thì giờ, tiền bạc, tuệ giác (sự hiểu biết), tình thương cho những người cần đến… Giới thư ba : Vì chánh niệm thấy nhiều đổ vỡ, kết quả do sự ăn nằm bừa bãi, tôi quyết không ăn nằm với kẻ không phải là vợ hay chồng mình, mà còn tìm cách bảo vệ người trẻ không bị lạm dụng tình dục hay là nạn nhân của những sờ mó … Giới thứ tư : Vì ý thức lời nói không nhìn sâu, cân nhắc kỹ, thiếu từ bi, có thể gây nhiều đau khổ, tôi quyết định nhìn sâu thấy kỹ lắng nghe cho rõ rồi mới nói và chỉ nói những lời có giá trị xây dựng hiểu biết và từ bi. Tôi sẽ không nói những lời gây chia rẽ căm thù, không phê bình và lên án những điều mà chưa biết chắc. Tôi lại còn tập lắng nghe sâu để hiểu tận tường mọi việc mọi người trước khi nói. Giới thứ năm : Vì ý thức tiêu thụ không chánh niệm cho thân và cho tâm sẽ đưa vào tâm tôi nhiều độc tố có thể làm tổn hại sức khỏe cơ thể và tâm hồn, tôi quyết định không uống rượu, không sử dụng các chất thuốc hút ma túy (về thân) và không xem những chương trình truyền hình hay những sách nhảm nhí bạo động dâm loạn, không nghe và không nói những lời thô tháo mắng chưởi nhau, bêu xấu nhau để giữ gìn sức khoẻ tâm linh cho tâm tôi… (Xin đọc ở Trang Nha Lang Mai www.langmai.org : Sách của Sư Ông Nhất Hạnh Để Có Một Tương Lai)

Influence of Thầy

By Cheri Maples

When I became a police officer in 1984, my deepest aspiration was to work for peace and to end violence and injustice. I quickly became intimately familiar, on a nightly basis, with the suffering caused by poverty, racism, social injustice, stealing, sexual abuse, domestic abuse, unmindful consumption, and oppression. I deeply craved peace but I did not understand that peace began in my own heart. I felt overwhelmed by the suffering I witnessed, by public misunderstanding, and by the politics of my own department. The misplaced anger of others fanned my own impatience and anger. I began to do my job in a mechanical way. I consumed too much alcohol, and I became angry and depressed. As a result, I brought suffering into my relationships with my family and others.

I attended my first retreat with my teacher, Thich Nhat Hanh (Thay), in 1991. At the time I was working nights as a police officer and raising two young sons. Then, from 1994-1999, I also attended Law School during the day while working the night shift as a cop.

Because I was such an unlikely candidate for this path, I consider finding my way to it the most important blessing of my life because it made the life I have now possible. At that first week-long retreat, for the first time in my life, I was able to get a taste of what it meant to slow down enough to find joy in the present moment, in just being rather than doing, and to feel the spaciousness of resting in the vastness of whatever simply is.

At that first retreat in 1991, Thay and Sister Chan Kong convinced me that it was possible to carry a gun mindfully. I left the retreat believing I could integrate my public service and mindfulness.

Something significant happened because when I came home, at least for a short period of time, everybody had changed, even the people I was arresting—for some reason they became more kind and precious in my absence. It was like somebody had turned on the color in my black-and-white life. Later, I realized that it was the energy of my presence, not my absence, that made the difference.

Of course, once I got back to the old routine, it didn’t last, but that initial taste was enough to create a deep desire to keep coming back. When I look back, I realize the very thing that created such havoc in my life – my goal-oriented, over-achieving, competitive nature – was also the thing that helped me with the practice. I was so stubborn that I was willing to stick with it, even when I didn’t think it was making any difference. The beautiful lotus flower I found in the midst of all that mud was constancy.

One of Thay’s greatest lessons has been constancy – the inspiration to really PRACTICE Mindfulness. In those early years, some part of me grasped that it was important not to approach Mindfulness practice with the same old project mentality, as yet another self-improvement project with a desired outcome, but just to do it.

So that’s what I did, even if it was just for a few minutes each day. I was so busy that I could often find only small gaps in my day to try meditating or just coming back to my breath Often it would be for 5 minutes in a doctor’s office or between classes, or on the bus, or in my car between errands, or waiting for the kids when I was picking them up somewhere, or when I heard a bell.

Looking back, Thay made it seem so simple, effortless, and accessible. There was nothing intellectual about his approach and the simplicity of it made me just want to try it. The first morning of that first retreat, I watched Thay walk into the room, and the way he walked was the equivalent of an entire Dharma talk for me.

He introduced us to sitting meditation and some gathas, which are just short and simple poems that facilitate Mindfulness practice, and then to eating meditation before breakfast. He said we should chew our food 25-50 times before we swallowed. Now, I can’t tell you how foreign this concept was for me as a cop, used to having to respond to calls with red light, siren, and speed!

So, I was used to inhaling rather than eating my food. Eating in silence and actually tasting my food for an entire week on retreat was a very rich Mindfulness experience for me about how being present to any experience can change the nature of it profoundly.

I think there were about 100 of us at this retreat, and we were on a very small Catholic College campus that had beautiful bells that were ringing about every 15 minutes, all day. Thay instructed us to use each sound of the bell as a reminder just to stop, to pause, to return to our breath for a minimum of 3 in and out breaths before we resumed whatever we were doing—whether we were walking outside, going through the food line, eating, or anything else. And, if he was giving a talk, he paused in the same way with every sound of the bell.

Since that very first retreat, the sound of any bell causes me to pause and produces an immediate feeling of gratitude. Before we left, he told us that our telephones probably rang as often as the bells did that week, and that we should substitute ringing telephones as wake-up-bells-of-mindfulness by letting them ring at least 3 times before we picked them up, and using the opportunity to simply return to our breathing.

So, in the beginning, although I couldn’t stay with my breath for even seconds at a time during meditation, I picked up these other little tricks to use to return myself to the present moment.

For years, I didn’t know a thing about the Four Noble Truths or the Three Dharma Seals. I didn’t read sutras. I didn’t know how to pronounce many of the words or the names of the various Bodhisattvas, I didn’t chant the Heart Sutra, or do any of the other things it seemed like “real Buddhists” did. The only Buddhist accessories I had in my house were a small bell and a meditation cushion. In the beginning, I simply practiced. I realize that the simplicity of Thay’s approach gave me great confidence that I could simply do it. And I was determined I was going to do it. Whether it was making any difference or not, I was going to stick with it. It was only later, looking back, that I realized that was probably why it was called a practice and that some form of constancy was all that was required of me.

Another thing I did that really helped is I continued going to Thay’s retreats, which kept reinforcing for me that I could only touch life deeply when I slowed down. I used just about every vacation I had, when I could afford it, to go to a retreat. In the beginning, it was only within a retreat environment that I could relax into that sense of spaciousness that the practice produces. With each retreat I attended, that spaciousness would last for a little longer after I came home.

Attending retreats also accelerated my meditation practice. Over time, I found myself slowly developing the ability to stay with my breath for longer periods of time. I experienced the contentment this kind of concentration can bring, and the ability to observe whatever was going on in my mind and body, which is the beginning of insight.

I was a slow learner, but I eventually realized that perhaps I should switch the foreground and background—maybe I should start focusing on setting up my life so that I experienced Mindfulness more on a daily basis rather than just when I took a vacation/was on retreat. Eventually, I was motivated enough to start taking steps to consciously set my life up so the things that mattered the most were no longer at the mercy of the things that mattered the least.

Looking back, I realize both the hyper-vigilance created by my job as a cop, and the frantic pace at which I was living my life, produced a biological roller coaster that was a set-up for constant crashes. I’d feel these adrenaline surges at work and then crash after I got off work. People get addicted to over-working or living life on fast-forward for a variety of reasons, among them the energy of those adrenaline surges. But, of course, what goes up must come down.

I think I was unconscious about this cycle until I slowed down enough to be able to reflect on it: go to work, feel alert, energized, awake; come home, feel tired and irritable and look for something to cut the edge. Go to work, be up here; come home, be down here. “Down here” mimicked a lot of the symptoms of depression. And when you don’t have the insight to help understand what’s happening, you begin to mistakenly project the reasons for the down cycle onto your family. And if you don’t develop some tools to navigate this cycle, your family constantly gets the short end of the stick because they get you for the bottom of the cycle, and resentment and conflict can start to become the norm.

Now, mix in the ingredients of the cynicism that comes with constantly responding to situations where people were not at their best; seeing the effects of violence, racism, and poverty on a nightly basis; with being trained in the adversarial law process, and you have quite a recipe for burnout. Add the ingredients of cutting yourself off from other people as a result of odd work hours, the biological rollercoaster, and the desire to spend time with those who understand and don’t consider you the enemy – which means other cops – and you get a recipe for disaster. I developed the “I used to” syndrome with respect to the activities I deeply enjoyed at one time but no longer made time for, as well as a smaller and smaller lense through which to view the world.

The form is different from job to job, and from person to person, but I see this recipe for disaster repeated throughout many different kinds of work arenas, in unpaid work as well as paid work. You start to rely on a variety of dysfunctional coping mechanisms and addictions that offer quick – but temporary – ways to cut the edge, but sap and close down the energy of the heart.

I certainly experienced all of these things. It was stumbling across Thay and this path of Mindfulness that provided me with the tools to navigate my way out of it.

Mindfulness continues to provide refuge and freedom from that tornado of habit energy that used to violently toss me around. Mindfulness provides protection in the form of an awakened heart, a commitment to set my life up to cultivate equanimity and water the seeds of joy, faith in my ability to make friends with whatever happens, and the confidence and inner integrity that come with leading a more ethical life and being more present to myself and others.

As my practice evolved, I began to get more creative about how to align my outer and inner worlds, especially during the last years of a 20-year career as a cop, then as the Head of Probation and Parole in WI, and then as an Assistant Attorney General for the WI Justice Department. Eventually, my practice began to show up more and more in how I related to my loved ones, to people on the street, to others in my workplace, and how I viewed my job.

And, of course, with time, aligning my inner and outer worlds has shown up in the kind of work I do as a Dharma teacher, in paid consulting work, and in unpaid volunteer work. Some of the unpaid work I currently do that is touching some of the deepest spaces of my heart is working behind bars with incarcerated people in prison. Iʼm sure I will eventually meet somebody who I helped put in there.

In my career as a police officer, I eventually found myself as a top manager, in the position of Captain of Personnel & Training. I was in charge of a team of people responsible for the hiring and firing of recruit officers, their training, and all the on- going training for all 500 officers in my department. I realized we were pretty good at teaching people how to keep themselves physically safe but we were losing them emotionally, and I managed to convince others around me that Mindfulness training was important. I used my own transformation as the blueprint for training other police officers. I started to enjoy both going to work and coming home from work.

Probably the single most important thing that happened over time was that, even as a cop who carried a gun on a daily basis, I became committed to learning how to be more skillful about not contributing to violence in any form. What Thay inspired in me over time was the strong belief that even something like carrying a gun for a living can be an act of love if one is also armed with Mindfulness and a compassionate intention.

Iʼve learned compassion can be fierce as well as gentle. Wisdom enables us to understand when the gentle Bodhisattva is required and when the fierce Bodhisattva is required in any given situation. Whether an act is violent or compassionate in nature is determined by the intention behind the action. The action itself can be smooth and gentle but if the motivation behind it is negative, it is still a manipulative or violent action. Likewise, fierce actions done with a positive, compassionate intention are nonviolent in nature. Sometimes fierce compassion is required to protect ourselves, others, and our relationships.

Compassion also flows from a deep understanding of impermanence and interdependence – another fruit of Mindfulness practice. Impermanence teaches us that thoughts and feelings, like everything else, are impermanent. When we learn to stop over-identifying with our thoughts, we stop fussing so much about ourselves, start dissolving our story lines and our egos, and no longer need to leave traces of ourselves everywhere. This kind of understanding enables us to develop a deep generosity toward ourselves with an increasing appreciation of our own humanity.

And, as we understand the nature of interdependence more deeply, we begin to notice how intricately connected everybody and everything is, how we inter-are with each other – and a deep sense of compassion develops as we understand more about causes and conditions.

An understanding of causes and conditions helps us deeply understand that this is this because that is that. If I have too much, someone else has too little. Rich people cannot exist without poor people. Republicans canʼt exist without Democrats. What I do on this side of the world affects what happens on the other side of the world in big and little ways.

When we understand this deeply we understand how linked the individual and collective consciousnesses are. Compassion flows from this understanding because I begin to understand on a deep level that when I take care of myself, I take care of you; and that when I take care of you, I take care of myself. I started to experience the incredible healing power of non-aggression as I found deeper levels to practice not causing harm to myself or others. Of course, the action of not contributing to violence in any form always begins with intention. One way to simplify our lives is not just by cleaning out our possessions, but by having a clear intention of purpose, then supporting that purpose with the way we live and direct our mind.

Right speech is connected to this – and an incredibly rich area of practice for me personally. I have noticed that it is possible to be a thoughtful consumer, be deeply concerned about the environment and global warming, make an effort to consume only organic food that is locally grown, make a commitment not to eat meat, use my car as little as possible, not consume intoxicants, not take anything that doesnʼt belong to me, but still go to war with others on a daily basis with my words, how I talk to others, and my need to be right. We often make the mistake of thinking our family members, neighbors, or co- workers are responsible for our anger. A Mindfulness practice teaches us that anger is first of all our business; we are responsible for our anger and all our emotions.

I grew up in a family where the habit energy of anger was very strong. Everybody vented and it was taken for granted that the hurtful things that were said would be forgotten. This venting certainly provided some temporary relief but in the long term by continually expressing anger, we were not getting rid of it. In fact, we were feeding it, watering its seeds, and strengthening its roots.

Right speech requires understanding the power that words create for ourselves and others, that language opens our tender wounds in very powerful ways. Because language is so powerful, it all begins with right speech, which means conscious speech. Conscious speech requires us to become aware of our words and learn to respect the power of our speech. We spend a lot of time talking but most of it is done on automatic pilot.

Right speech involves paying attention to what we say to ourselves as well as to others. Meditation is a very powerful tool for paying attention to what assumptions and judgments we are making – and what seeds we water in ourselves and others with our language. The first step is to notice the judgment as a judgment, not to feel bad about having it, but just to recognize it, and understand how to work with it.

Right speech is probably one of the most important places in our life from which to work for peace, including in our relationships at home and at work. Only in an open space where weʼre not all caught up in own version of reality can we see and hear and feel who others really are, which allows us to be in authentic communication and a respectful relationship with them. Blame is simply another barrier we erect that prevents us from uncovering the tenderness of our hearts. When we hold on to our opinions with aggression – no matter how valid our cause – we are simply adding more aggression to the planet, and violence and pain increase.

Organizationally, I have found ethical communication to be the most important ingredient of a healthy climate – and the lack of ethical communication to be a major element of dysfunctional organizations and communities. Right speech requires developing insight about the unmet needs behind our criticisms and judgments, a commitment to being present to others with deep listening, and a commitment to resolving conflict by learning to end the blame game of dividing up the blame pie and arguing about who owns what percentage of the pie.

When we deeply realize that we are all 100% responsible for our own experiences – not for blame – than we can create a new type of dialogue, one that only requires each of us to take responsibility for our own experiences. We examine how our perceptions and museum of hurts were triggered in any given conflict, and try to look for common ground in the arena of unmet needs rather than assigning blame for the conflict, or trying to convince others that our perceptions are more accurate than theirs.

In order to go about things without adding aggression, it is important to notice very clearly what we do when we feel attacked or confused, and learn the art of pausing and refraining – of putting space between our thoughts and our words. What happens as the result of our pain? Do we learn more about what it is to be human or less? A tremendous way to accelerate our practice at those times is to simply recognize and give our vulnerability a bath of Mindfulness rather than acting out.

In conclusion, try to be inspired by what the world would be like if each of us could truly be present to our own lives so we can find the courage to have our hearts broken open in love rather than protected in fear, to enjoy feeling deeply, and to continually work on the capacity to understand and love others.

Then plant the intention to do so. The intention in our minds and hearts always sets the course. We have to keep asking ourselves if what we are doing is making us kinder, more understanding, and more loving.

Thanks to Thich Nhat Hanh and the practice, I have been able to deepen my practice of Mindfulness, letting go of cynicism and opening my heart. I found the compassion that comes with being willing to be vulnerable and touched by the world. I am still unskillful at times, but this experience of opening up to my sad and tender heart produced a fearlessness that enables me to continue the process of transforming myself.

~ Cheri Maples

THICH NHAT HANH’S HERITAGE

Joseph Emet

The Buddha left behind a rich legacy. His many heirs in different countries have taken diverging paths, creating such diverse traditions as Zen, Vipassana and Pure Land. A little bit like the different diets in vogue today, each emphasizing a different group of foods, each of these traditions emphasizes one aspect of the original teachings. And within each tradition, teachers with powerful personalities establish their own diverging “diets” almost with each passing generation.

Against the backdrop of this perennially expanding Big Bang of the Buddhist Universe, Thich Nhat Hanh has a unique place: he has woven these divergent traditions into a many colored tapestry without losing the richness that each gained through the centuries. With Thich Nhat Hanh, Pure Land, Zen and Vipassana enlighten and inform each other, while contributing to our understanding in their unique ways. Indeed, to my post-Thich-Nhat-Hanh mind, each of these traditions taken alone now appears incomplete, a little bit like the picture of the proverbial elephant that several blind people touching different parts of the animal each formed in his mind.

I sometimes encouner people who say that they are following Vipassana teachings, but they are not aware of Thich Nhat Hanh. Thich Nhat Hanh is a Vipassana teacher, one of the foremost of our time. He has translated the key Sutras of this path, and commented on them in Breathe, You Are Alive, and in Transformation and Healing. The transcript of a 21-day retreat based on these Sutras has been compiled as The Path of Emancipation (all published by Parallax Press.) He incorporates elements from these sutras into many of the retreats he offers. He has echoed the feeling of other Vipassana teachers in saying that with these key Sutras, the Anapanasati sutra and the Satthipathana sutra, we come close to the original teachings of the Buddha without later accretions. He has added that before we study traditions that developed almost a thousand years after Buddha’s passing, such as Zen, we should familiarize ourselves with the Buddha’s own words and practice. Yet, he has also written perhaps the clearest text on Zen, Zen Keys (with an introduction by Philip Kapleau). For him, knowing the Buddha’s own words and practice informs and illuminates the Zen path.

I first came upon the word “mindfulness” in the title of Thich Nhat Hanh’s 1975 book, The Miracle of Mindfulness. An edition of the two volume Shorter Oxford English Dictionary published in the same year does not have an entry for “mindfulness,” although it has one for “mindlessness.” “Mindfulness” was clearly not a word in common use at that time. That has changed since then: now there are 2000 books in print in English alone featuring that word in the title. But that is just the tip of the iceberg: only a small portion of books about mindfulness contain that word as part of the title; The Miracle has triggered a veritable avalanche.

“What is mindfulness?” I am sometimes asked. You can define concepts, but can you define a skill such as meditation, or clarinet playing? A skill but has to be practiced, learned, enjoyed, and developed. It is best taught by example as well as explanation, and by apprenticeship as well as scholarship. At best, you can describe a skill: mindfulness is the art of bringing our accumulated knowledge, life experience, wisdom and insight to bear upon the present moment, upon each moment, moment after moment. But how do you do this? This is a hurdle for many beginners. I have worked as a music teacher, and I particularly remember a young lady of about 12 who wanted to learn to play the clarinet. After we put the clarinet together carefully, she looked at me and asked, “How do you turn it on?” It is relatively easy to find a pillow or bench, sit in the meditation pose and so on, but “how do you turn it on?”

I know that hurdle. I have dabbled in some kind of meditation most of my adult life: I stayed in Yoga ashrams, learned to appreciate Indian music and vegetarian food, did OM chanting, kirtans, and sat every morning and evening. But I was mostly faking meditation. I sat straight all right, but do not ask me what was going on in my mind, because I had no clear idea. Then followed 11 years with the Sufis, and afterwards a period of Japanese style Zen. I continued to fake meditation in these different settings. By “faking it” I do not mean to say that I was trying to fool anybody, just that I had not yet made friends with my mind, and did not have much awareness. I was just sitting straight and was silent, while my mind kind of went on as usual in its merry way.

I invite you to look at The Miracle of Mindfulness against this backdrop, and read it as I read it in those days. It does not start with a description of sitting posture, but in an informal, chatty way: “Yesterday Allen came over to visit with his son Joey. Joey has grown so quickly!” Then follows a discussion about family life, about washing the dishes, having a cup of tea, and eating a tangerine—all ordinary everyday activities. Up to that time, “meditation” meant “sitting” for me, often in exotic or special settings. Now it was to gain a new meaning. Till then, the meditation period and the rest of the day were quite distinct and separate. Thich Nhat Hanh was suggesting that meditation could be a daylong process of awareness, of being present and in the moment. This emphasis on everyday activities, and on the mental process of meditation as opposed to posture finally opened my eyes.

With that book, the mindfulness renaissance was on, and it has spawned a number of mindfulness based therapies such as ACT, Mindfulness Based Cognitive Therapy, Mindfulness Based Stress Reduction, Dialectical Behaviour Therapy, and Hakomi. Indeed, the Buddha occupies an important place in the mental health field today, as many hospitals now have mindfulness based programs for Traumatic Stress Syndrome or palliative care, and many universities have mindfulness based counseling programs. Thich Nhat Hanh is one of the pionneers in this movement as he threw the spotlight on this aspect of the Buddha’s heritage 35 years ago.

The teachings on mindfulness now form the core of what is packaged and taught as Vipassana. The two core Sutras of this movement are included in The Miracle of Mindfulness, but Thich Nhat Hanh teaches them in a wider context that includes other Buddhist traditions such as Pure Land and Zen. This puts them in a rich perspective. The Buddha gave more than those two teachings. However, mindfulness practice (sati in Pali) occupies a central place, as it brings to the present awareness of the insights one has had, and of the things one has learned. In English as well as in Pali, the word has a connotation of remembering—the opposite of mindfulness would be forgetfulness. This aspect is foremost in Thich Nhat Hanh’s teaching: the mindfulness bell is a constant feature of Plum Village practice, reminding us every few minutes to come back to our breath, to the here and the now, and to who we are.

I gained a clearer understanding of Pure Land Buddhism in 2002, when I accompanied Thich Nhat Hanh and a large group of monastics and lay practitioners on a trip to China. I had been immersed in Pure Land Buddhism on my trips to Plum Village in France where Thich Nhat Hanh lives, but I was not quite aware of it, because the practice was not labeled as such. Plum Village has a non-denominational flavor: there is Vipassana practice, Zen Practice and Pure Land practice happening all the time there, but they are not often identified and separated out as such. The integration is quite seamless, and for many, this is the essence of  the “Thich Nhat Hanh brand.”

At the Bao Quoc temple in China, we were looked after by lay volunteers immersed in Pure Land practice. We saw them always with the Buddha’s name on their lips: “Hello” was “Buddha,”  “Good-Bye” was “Buddha,” and “How are you?” was also “Buddha.” This simplified the Chinese language greatly! And these smiling, helpful and gracious people were happy, and truly present in Buddha’s Pure Land.

Thich Nhat Hanh suggests a mind game: supposing that a group of people who are full of negative energies like greed, anger and hatred were suddenly to find themselves in paradise. It would not take them long to transform paradise into hell (a situation that is actually happening in many parts of the world today). The converse of this is described in the Pure Land tradition: when  a Buddha is enlightened, he finds himself in paradise. Pure Land rephrases the goal: the elusive sudden enlightenment, or “Kensho” of Zen becomes transformation. Transformation is also a key goal in Thich Nhat Hanh’s teaching; several of his books have that word in the title. Happiness is transformational, and is the direction of much of the practice at Plum Village. For me, after pursuing enlightenment with grim determination, it was such a relief to find myself there, surrounded with the transformational energy of mindfulness, and bathed in the sunshine of the present moment.

Do not expect to find the Heart Sutra or the Diamond Sutra in a Vipassana or a Pure Land Center. However, these and other Mahayana texts form an integral part of Thich Nhat Hanh’s teaching, and add clarity and vigor to his practice. He reminds us constantly of our love affair with ideas and concepts, and our propensity for taking them for reality. He often quotes Zen Koans, but does not use the Rinzai pedagogy of leaving the student alone with a puzzle. As one of his monastic students, the regretted Thich Giac Thanh once said to me, “When I was younger, I spent some time in a Zen center in New York state because of some suffering in my life. But soon, the practice at the center became a further source of suffering.” The practice at Plum Village is designed to be a source of joy and happiness.

When we talk about the practice at Plum Village, we are also discussing pedagogy. Pedagogy is Upaya, appropriate means for leading someone closer to the truth about herself, and about life, closer to the Dharma.  The particular mix of the formal and the informal, of silent walks and discussion periods, of inspiring Dharma talks, and some amount of informal socializing that is the hallmark of Plum Village life creates time and space for people to find themselves. Plum Village is not the army, it is not a place where every minute is controlled and regimented. It is a place of inspiration where the practice often leads one closer to nature, and allows nature to work its magic.

Thich Nhat Hanh is a scholar with a thorough knowledge of the Buddhist tradition, but he is not tradition bound. In other Buddhist centers I have chanted the Heart Sutra in medieval Japanese which most Japanese people no longer understand, and in Sino-Vietnamese, which neither the Chinese nor the Vietnamese know any more. It was refreshing to hear it chanted at Plum Village in English and French, with attractive original melodies composed by residents. Unlike some ethnic centers which impose a kind of reverse colonialism on practitioners, Plum Village is willing to let Buddhism evolve within the western culture while staying true to its roots. This was very inspiring to me.

I am a musician, and I soon found myself setting Thich Nhat Hanh’s poems to music. Call Me By My True Names, Thich Nhat Hanh’s book of poetry, soon became my constant companion. In that book, a different facet of his personality emerges: in his poems, he is no longer speaking in a didactic voice, but with the voice of birds and flowers, with the voice of inspiration. I was to discover all over again in composing songs what I learned in meditation about the mind. I learned to make friends with my inner self (unconscious mind, if you prefer), and allow it to come up with melodies and other ideas, and guide it gently along to sing its songs to Thich Nhat Hanh’s words. It was a lesson in listening, in being open to inspiration, and in learning to use the conscious and the unconscious sides of the mind to work together in harmony. Peace is Every Step, one of the poems I set to music, can be understood in this light: when there is peace among the different facets of the mind, “the endless path turns to joy.” 

These days I enjoy sharing the practice with others at the Mindfulness Meditation Centre in Montreal. As a result of my past frustrations in trying to “nail down” the process of meditation, I have developed a series of 12 guided meditations each on a different aspect of the practice. In our sessions we first do one of these guided meditations, and then a period of silent meditation.  I am also putting the finishing touches on a new CD, with original words this time. My first four CD’s were about the practice of mindfulness. This one is about living an everyday life in the light of mindfulness. It’s working title is Be Here Now.

Joseph Emet is the founding teacher of the Mindfulness Meditation Centre in Montreal, Canada (mindfulnessmeditationcentre.org). His Dharma songs have been enriching the practice of Plum Village, and other communities of Mindful Living around the world. They are published by Parallax Press as Basket of Plums, a boxed set of two CD’s and the sheet music. He lives with his partner Suzanne Forest.

Một vị thầy sống hạnh nghèo nàn

                                                             (Cổ San)

Có thể nói thiền sư Nhất Hạnh là một trong vài vị tăng sĩ làm ra tài sản lớn nhất trong giới tu sĩ Phật Giáo Việt Nam, nếu tính về lợi tức do bản quyền các cuốn sách mà ông trước tác, nhất là những cuốn được dịch ra nhiều thứ ngoại ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây ban nha, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, v.v… Các tu viện do thiền sư thành lập tu tập theo pháp môn của ông,  dù tại Pháp, Mỹ hay Việt Nam, nơi nào cũng có những thiền đường vĩ đại chứa hàng ngàn người. Nhưng trên mặt khác, những ai từng thăm viếng thiền sư tại các thất mà ông cư trú, dù là tại Làng Mai, hay tại các tu viện tại nước Mỹ như Rừng Phong, Lộc Uyển, đều thấy rõ lối sống vô cùng giản dị và đơn sơ của ông.

Trong phòng khách ở căn nhà tiền chế (moblie home) của ông tại Tu viên Lộc Uyển, ngoài bàn thờ Phật nho nhỏ, chỉ có một cái bàn thấp cùng dăm tọa cụ, một vài chậu hoa tươi, bộ chén uống trà. Trong phòng ngủ chỉ có một cái giường rất thấp, đúng ra là tấm đệm đặt ngay trên mặt đất, vài cuốn sách báo và một bàn viết có cây đèn, cùng hai cái ghế, một để ngồi viết, một để nghỉ ngơi.  

Một Phật tử từ Los Angeles tình cờ đi tới tu viện Lộc Uyển (Deer Park monastery) vùng Escondido (California) đưa một cô em gái từ Việt Nam qua chơi, đã đuợc vô thăm chỗ thất của thiền sư Nhất Hạnh. Cô Phương ngạc nhiên thấy “vị thầy nổi tiếng mà sống trong căn phòng đơn giản quá sức.” Nguời dẫn cô tới thăm thất của thiền sư Nhất Hạnh cho biết: “ Bao nhiêu lợi nhuận thầy kiếm được đều dùng để duy trì các trung tâm tu học của thầy tại Pháp, Mỹ và nay tại Việt Nam. Ngòai ra tăng đòan Làng Mai còn hỗ trợ các công tác xã hội liên tục từ thập niên 1960 tới nay, như mở trường mẫu giáo cho trẻ quê nghèo, cấp học bổng v.v…”

Lối sống thanh bạch đó, người ta đã thấy nơi Thiền sư Nhất Hạnh từ lâu. Chúng tôi một lần qua Pháp cách đây vài năm, có may mắn đuợc phỏng vấn anh Thanh Huơng, hiện nay cùng gia đình đang sinh sống tại ngọai ô Paris.

Anh Thanh Hương nguyên là một tu sĩ từ khi còn trẻ,  từ năm 1970, anh đã ra sống cuộc đời của một cư sĩ. Khi còn sống trong Phật Học Viện ở Việt Nam trước năm 1966, anh đã dự nhiều lớp do thầy Nhất Hạnh giảng dậy, và sinh lòng cảm mến và khâm phục. Anh được học bổng qua Nhật trước năm 1975, nhưng sau khi đến Nhật Bản anh muốn chọn đi nơi khác, đã viết thư cho thầy. Anh đuợc Thiền sư Nhất Hạnh bảo trợ qua Pháp, nên sau đó đã có dịp sống bên cạnh ông thầy suốt những năm đầu thập niên 1970, trong cùng một căn phòng. Gần 40 năm sau, anh kể lại cuộc sống bên cạnh vị thầy cũ mà không kiềm chế được xúc động.

“Thầy Nhất Hạnh thời đó đã được rất nhiều người kính nể và được nhiều tổ chức cũng như cá nhân hỗ trợ để làm công tác từ thiện… Tôi là người duy nhất sống bên cạnh thầy, ở cùng một phòng, ăn cùng một mâm, vì căn ấp thầy thuê được rất nhỏ. Tôi đuợc thầy nuôi nhưng thầy để cho tôi rất tự do, hầu như không bao giờ bắt tôi theo ý ông hết… Mỗi ngày, Thầy và tất cả chúng tôi, có chị Cao Ngọc Phượng, tức là sư cô Chân Không bây giờ, cùng anh Steve, mấy nguời Pháp, nguời Mỹ mà tôi đã quên tên, làm việc chung với nhau trong căn nhà nhỏ đó.

“Các anh các chị chắc cũng biết thầy không chịu được mùi thuốc lá, thầy ghét khói thuốc lắm. Trong mấy năm tôi ở bên thầy, tôi vẫn không bỏ được thói quen hút thuốc đã nhiễm từ khi còn ở Việt Nam. Chúng tôi ở chung một phòng, hai người hai cái giường, lắm khi trời lạnh tôi hút thuốc trong phòng. Nhưng trong những năm đó tôi không bao giờ nghe thầy than hay trách mắng một câu nào về mùi khói thuốc. Thầy nhẫn nhịn, có lúc tôi nghĩ mình hãy thử xem thầy nhẫn được đến đâu, nhưng tôi không bao giờ thấy thầy bỏ mất tính nhẫn.

“Mỗi ngày, các người Việt và người ngoại quốc đến làm việc, viết văn thư, viết các lời kêu gọi cứu giúp các nạn nhân chiến tranh ở trong nước, mọi người đều quỳ bò viết trên nền nhà, vì văn phòng chỉ có một cái bàn thấp. Thời đó, thầy nhận đuợc rất nhiều tiền hỗ trợ từ bốn phương gửi tới để thầy làm các công tác xã hội tại Việt Nam. Các tổ chức quốc tế từ Hà Lan, từ Anh quốc, từ Đức ký những ngân phiếu hàng trăm ngàn mỹ kim để giúp công tác xã hội của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Có lúc tôi đã hỏi tại sao thầy không trích một số tiền “viện trợ” đó mua sắm bàn ghế để văn phòng có vẻ khang trang hơn, nhất là khi cần tiếp khách ngoại quốc. Nhưng, thầy nhất định không bao giờ dùng tới một đồng nào trong số tiền người ta giúp. Phần thầy, ông chỉ sống bằng lương dạy học ít oi của một giảng viên bán thời gian trong Institut de France và ở đại học Sorbone, Paris…

“Thầy trò chúng tôi thuờng phải mua thực phẩm nuôi chim để lựa gạo, đúng hơn là lựa gạo tấm ra mà nấu cơm, vì đa phần trong đó là thóc và trấu…Mà cơm thì không một bữa nào đáng gọi là bữa cơm cả!”

Anh Thanh Huơng bật khóc khi nhớ lại cuộc sống hàn vi bên ông thầy khổ hạnh. Sau cơn xúc động, anh Thanh Huơng nói tiếp:

“Nếu phải tôi là Thầy thời đó, thì ít nhất tôi cũng tự cho phép trích ra một phần tiền người ta gửi tới – coi như « công tác phí » để mua thực phẩm hay mua vé xe búyt chứ?  Tôi không thể sống quá khổ hạnh như thầy! Nhưng mình là học trò thì phải tu theo ông thầy thôi… Sau khi đã quen đuờng xá và ngôn ngữ, tôi mời bắt đầu kiếm việc làm để thêm chút phương tiện mua rau đậu phụ cho thầy…” 

Anh Thanh Hương cũng nói về chiếc áo lạnh mới duy nhất mà thiền sư Nhất Hạnh đã mua ở chợ trời vào một mùa đông, khỏang năm 1971. Hai thầy trò đi chợ trời mua mấy thứ cần thiết, anh Thanh Hương thuyết phục ông thầy mua một chiếc áo lạnh, vì tấm áo của thầy đã cũ và sờn rách trông thảm quá. Ngần ngại mãi, thầy mới mua. Mua áo về rồi, mỗi lần xỏ tay vô là thầy lại cởi áo ra treo lên mắc. Ông nói với anh Thanh Hương: “Mặc áo mới trông kỳ lắm!” Cái áo mới đó được để yên trong tủ cho tới lúc có phái đoàn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất qua Paris trong thời gian đang họp bàn hiệp định ngưng bắn, thầy Nhất Hạnh đem ra tặng thầy Huyền Quang. Anh Thanh Hương lấy làm thú vị về câu chuyện này, nên đã đứng chụp hình chung với thầy Huyền Quang khi thầy mặc cái áo mới của thầy Nhất Hạnh tặng. Anh nói, “Chắc chiếc áo lạnh đó bây giờ vẫn còn ở trong ngôi chùa nào đó, một trong những nơi mà Thầy Huyền Quang đã bị quản thúc trong các năm qua.”

Anh Thanh Hương hiện nay không còn liên lạc thường xuyên với Thiền sư Nhất Hạnh, anh thường tới giúp làm Phật sự tại chùa Khánh Anh, Paris. Nhưng nhắc tới vị thầy cũ đã có lúc sống bên anh, trong óc anh còn nhớ lại hình ảnh một người cùng anh làm những công việc tay chân khi cùng nhau tu sửa căn nhà ở miền quê, là nơi thầy trò về ở, sau khi chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt và các hoạt động cứu trợ ở Việt Nam cũng phải chấm dứt vì TrườngThanh  niên Phụng sự Xã hội bị giải tán. Thầy cũng làm những công việc sửa nhà, đẩy chiếc xe cút kít, hoặc quét giọn sau khi làm xong việc, như tất cả các đệ tử đến làm giúp. Anh mỉm cười khi nhắc lại: “Tôi từ bé được mẹ nuôi, vào chùa thì có bá tánh nuôi, cả đời tôi không biết nấu cơm bao giờ. Mỗi ngày, trong những ngày tôi mới sang Pháp thầy lo nấu cơm, canh, rồi chính thầy mời tôi ra ăn. Tôi ngượng quá, sau cũng phải tập nấu cơm để phụ giúp thầy.”

Anh Thanh Hương được thầy Nhất Hạnh khuyến khích học tiếng Pháp. Thẩy bảo anh mỗi lần thầy đi dậy học, anh hãy theo thầy đi học luôn. Nhưng có nhiều bữa anh ngủ quên, nghỉ học luôn, thầy cũng không mắng. Đến cuối khóa anh bị thầy đánh rớt vì không học đủ, anh cũng chịu, mà thầy cũng không nói một lời trách mắng. Hình ảnh thầy trong trí nhớ của anh là một vị tăng sĩ sống trong cảnh bần hàn và đạo hạnh.

Sống đúng thân phận một “bần tăng,” ngày nay dù thiền sư Nhất Hạnh được các nhà xuất bản trả hàng triệu mỹ kim tác quyền, nhưng ông dùng tất cả tiền bán sách cũng như tiền cúng duờng của các khóa sinh tu học tại Làng Mai hay các khóa tu khắp thế giới, để nuôi đệ tử  và phát triển phong trào tu học ở khắp nơi. Thầy cung cấp phuơng tiện cho khoảng 500 tăng ni tu học tại Pháp, Mỹ và Việt Nam. Nhu cầu hoằng pháp cứu khổ ngày càng nhiều. Nghe tin ông đầu tỉnh Đà Nẵng đang xin thiền sư lập một một trung tâm Làng Mai tại tỉnh đó. Một trung tâm khác sắp được thành lập tại Chiang Mai, Thái Lan.

Trong các tự viện, thiền sư Nhất Hạnh bắt buộc các tăng ni theo đúng thanh quy giới luật nhà chùa, không nới lỏng mặc dù đã được “hiện đại hóa” theo cuộc sống của thế kỷ 21. Hai cuốn Giới bản tân tu của khất sĩ và nữ khất sĩ, do tăng đòan Làng Mai ấn hành năm 2004, đề cập tới những sinh họat hiện đại như Internet, lái xe hơi v.v…có thêm các quy tắc mới như không được có điện thoại riêng, không xe gắn máy hay xe hơi riêng, và khi vào Internet phải có một bạn tu cùng vào để khỏi bị đi lạc.

Mỗi tăng ni sinh khi xuất gia theo thiền sư Nhất Hạnh ông đều phải từ bỏ hết của cải riêng bằng cách đem tặng làm phước hay trao lại cho gia đình – và “sống nghèo hành đạo” theo ông thầy. Cô Chân Diệu Nghiêm (Jina), trụ trì chùa Cam Lộ Xóm Hạ Làng Mai, nguyên trước kia là một thiền sư tu theo truyền thống Nhật Bản, cô cũng có nhiều của cải riêng từ trước khi xuất gia. Từ cuối năm 1990, cô về thực tập thêm với thầy Nhất Hạnh tại Làng Mai. Sau mấy năm tu tập tại Làng, cô Jina đã từ bỏ hết của cải riêng, bỏ chiếc áo tu màu đen để mặc mầu nâu sồng và sống cuộc đời giản dị, không có chút tài sản riêng – giống hệt như các huynh đệ, tỷ muội khác trong làng.

Cây trên suờn núi

                                    (Tiểu Huyền)

Trong tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc), ngày 3 tháng 3 năm 2007 vừa qua, khi một thiền sinh hỏi “Thưa Thầy, vì sao Đề Bà Đạt Đa, chuyên phá đức Phật, lại cũng đuợc coi là có công đức?” Thiền sư Nhất Hạnh đã trả lời, nguyên văn như sau:

 “Đức Thế Tôn có nói rằng là Đề Bà Đạt Đa, nguời gây ra khó khăn cho tăng đoàn, cho đức Thề Tôn, cũng đóng góp một phần nào đó cho sự lớn mạnh của tăng đoàn và của đức Thế tôn. Nó có nghĩa là khi mình tu học mà gặp những trở ngại thì mình cũng có duyên vuợt thắng các trở ngại. Và những trở ngại đó làm cho mình lớn lên, mình học hỏi , mình vuợt thắng đuợc những khó khăn đó. Con đuờng tu luôn luôn có những trở ngại…

“Có những nguời phá phách, có những nguời bêu xấu, có những nguời nói oan cho mình. Nhưng mà nếu mình biết tu thì mình có thể vuợt thắng đuợc những cái đó và mình lớn lên. Cũng như cái cây mọc trên suờn núi. Núi toàn là đá sỏi, không có đất thịt nhiều và có mưa gió rất nhiều. Vì vậy những cái cây sống trên suờn núi nó cắm rễ rất sâu và đứng rất vững truớc mưa gió. Còn những cây mọc trên đồng bằng mà đất rất mềm thì mỗi khi có gió mạnh nó có thể ngã xuống một cách dễ dàng.

“Cho nên càng có nhiều trở ngại, càng có nhiều châm biếm, nói xấu, phá họai thì sự tu học của mình càng vững mạnh lên. Và vì vậy những kẻ phá họai, gây những khó khăn – như Đề Bà Đạt Đa trở thành một cái tăng thuợng duyên, tức là một điều kiện giúp mình lớn mạnh. Mình biết ơn nguời đó, gọi là nghịch tăng thuợng duyên. Nghịch tăng thuợng duyên là những cái trở ngại nó làm cho mình vững mạnh hơn. Thành ra trên đuờng tu mình có thể gặp những khó khăn như vậy trong gia đình, trong cha mẹ, trong huynh đệ, trong bạn bè. Có nguời ham danh ham lợi, không có tu thiệt, và gây ra những khó khăn ở trong chùa, trong chúng. Nếu mình khơng tu giỏi thì mình thối chí, mình cho đó là những trở ngại khiến mình không tu đuợc. Nhưng mà nếu mình quyết tâm thì chính những trở ngại đó giúp cho mình lớn lên, vuợt thóat, mình không đau khổ vì những cái đó. Trái lại mình lớn lên và coi thuờng những cái đó.

“Như tôi chẳng hạn, trên buớc đuờng tu của tôi, tôi gặp rất là nhiều khó khăn, nhiều chuớng ngại. Hàng triệu nguời nói tôi là nguời Cộng Sản, hàng triệu nguời nói tôi là tình báo CIA. Họ viết bài, họ nói xấu, họ nói tô có một vợ hai con! Nhưng mà tôi không có đau khổ gì hết. Tôi tỉnh bơ! Và tôi thấy thuơng những nguời đó. Và chính những cái đó làm cho mình vững mạnh lên. Ban đầu thì mình hơi xính vính, mình hơi chán, mình hơi buồn. Nhưng mà nếu mình chết chìm trong những cái đó thì làm sao lớn lên đuợc? Cho nên những trở ngại trên đuờng tu, những trở ngại trên đuờng sự nghiệp của mình có thể giúp mình lớn lên, và thành công hơn. Do đó cho nên một hôm đức Thế Tôn đã tán thán Đề Bà Đạt Đa. Nhưng không có nghĩa là đức Thế Tôn nói tất cả quý vị đều nên chống đối, đều nên phá họai chánh pháp. Không có như vậy đâu! Những nguời chống báng chánh pháp, phá họai tăng đoàn, gây khó khăn cho nguời tu thì những nguời đó có tội. Còn mình tu thì những cái đó giúp cho mình trưởng thành mau hơn. Cái nghĩa nó là như vậy, chứ không phải đức Thế tôn khuyến khích mọi nguời đều làm như Đề Bà Đạt Đa. Không phải vậy đâu.”

Đã từ lâu, một tờ báo xuất phát từ Paris viết nhiều tin thất thiệt về thiền sư Nhất Hạnh, và nhiều người cả tin, đã loan truyền những điều mà họ không biết rõ. Họ cũng không tới Lng Mai để kiểm chứng hay đặt câu hỏi với hàng trăm đệ tử thân cận của Thiền sư.  Một ký giả trong một tờ báo chợ tại Cali, đã viết tin về anh G., con rể của em gái sư cô Chân Không, loan tin đó là con trai thiền sư! May cho anh ký giả này, chàng thanh niên đó (là con một bác sĩ tại Cali) đọc bản tin bịa đặt kia quá trễ, và anh ta làm việc rất bận rộn, nên không làm thủ tục đưa ký giả vô luơng tâm đó ra tòa!

Trong một dịp tới thăm giáo sư Trần văn Khê mới đây để phỏng vấn giáo sư về cuộc sống vẫn năng động của ông tại quê nhà; chúng tôi đuợc nghe giáo sư nói chuyện về thời gian bé Minh Tâm và mẹ bé (cháu nội và con dâu của giáo sư Khê) tới ở nhờ khu cư trú tại Phương Vân Am (Font Vannes) của thầy Nhất Hạnh. Hai mẹ con tạm trú với ông thầy cả năm (thập niên 1970 – năm nào thì giáo sư đã quên!). Cùng thời gian đó cũng có cô bé Thanh Thủy gần tuổi với Minh Tâm, đuợc cha mẹ mới qua tới Pháp, đem bé gửi cho Sư Ông nuôi dạy dùm mấy tháng, để họ đi kiếm việc làm. Ông thầy thuờng dẫn hai cháu đi chơi, dạy cho hai cô bé cách nhìn kỹ con sâu, cái kiến, hòn sỏi; nhìn ly nuớc táo lắng trong v.v…(Coi trong sách Trái Tim Mặt Trời). Trong một buổi văn nghệ Phật Giáo tại Paris, sư ông đã ngồi cạnh hai cô bé thay vì ngồi chung hàng ghế với các vị khách qúy… Vậy là tin đồn “thầy Nhất Hạnh có hai con!” đuợc tờ báo kia tung ra!

Theo sự hiểu biết của giới thân cận với Làng Mai, mọi tin tức sai lạc về thiền sư hầu như đều phát xuất từ một nguời phụ tá cho ông thời xưa, sau khi anh ta bị thất sủng. Nguời đó đã đuợc ông thầy giao cho việc quản lý quỹ từ thiện do các thiện nhân quốc tế ủng hộ nhà sư, khi ông bắt đầu lưu vong sống tại Paris ((cuối thập niên 1960). Mỗi năm, ông thầy Nhất Hạnh nhận đuợc hàng trăm ngàn đô la để gửi về Việt Nam và Huế. Ông bảo trợ cho các sinh họat của truờng Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và các dự án lập Làng Tình Thuơng, cấp học bổng cũng như nuôi hàng ngàn trẻ em đói khổ v.v…

Cuối năm 1968, cô Cao Ngọc Phuợng (tức sư cô Chân Không ngày nay) đang là giáo sư Sinh học tại đại học Huế, cũng là thành viên trong ban điều hành truờng Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội Saigon; đã từ Việt Nam qua phụ giúp thêm cho ông thầy trong công việc liên lạc với quốc tế. Cô Phuợng đã đề nghị một lối quản trị tài chánh minh bạch và số luơng “phục vụ” (ít ỏi) cho tất cả những nguời phụ giúp ông thầy. Việc xử dụng quỹ từ thiện đuợc kiểm sóat chặt chẽ hơn. Kết quả: gia đình nguời phụ tá kia lặng lẽ “từ biệt” ông thầy, mang theo tất cả hồ sơ, máy móc mà ông thầy đã tin, giao cho anh ta điều hành! Anh đó bắt đầu những “chiến dịch” bôi nhọ nguời mà anh không còn đuợc phụ tá, không còn được toàn quyền xử dụng quỹ từ thiện, từ thập niên 1970 cho tới ngày nay!

Trong khi đó, anh Thanh Hương, một nguời đuợc thiền sư Nhất Hạnh bảo trợ qua Pháp,  từng sống bên cạnh “ông thầy” suốt những năm đầu thập niên 1970, trong cùng một căn phòng, đã hết lời ca tụng đời tu khổ hạnh của thiền sư Nhất Hạnh. Nguời viết cách đây vài năm, có may mắn đuợc phỏng vấn anh Thanh Huơng, nay cùng gia đình đang sinh sống tại ngọai ô Paris. Anh đã nói về thời gian đó như sau:

“Thầy Nhất Hạnh đuợc rất nhiều nguời kính nể và đuợc nhiều tổ chức cũng như cá nhân hỗ trợ để làm công tác từ thiện…Thầy và tất cả chúng tôi (gồm cô Phuợng, anh Steve, Mobi Hồ…cùng mấy nguời Pháp, nguời Mỹ mà anh đã quên tên), làm việc chung với nhau. Tôi là nguời duy nhất sống bên cạnh thầy, đuợc thầy nuôi nhưng thầy để cho tôi rất tự do, hầu như không bao giờ bắt tôi theo ý ông hết…Thầy vẫn có hạnh tu giống như bây giờ. Trong khi Thầy nhận đuợc rất nhiều tiền từ bốn phuơng gửi để hỗ trợ thầy trong các công tác xã hội tại Việt Nam. Nhưng, Thầy chỉ nhất định sống bằng luơng dạy học ít oi của một giảng viên bán thời gian trong đại học Sorbone, Paris…

“Thầy trò chúng tôi thuờng phải mua thực phẩm nuôi chim để lựa gạo, đúng hơn là lựa gạo tấm ra mà nấu cơm, vì đa phần trong đó là thóc, trấu…Mà cơm thì khơng một bữa nào đáng gọi là bữa cơm cả!…” Anh Thanh Huơng ôm mặt khóc lớn tiếng khi nghĩ tới nếp sống hàn vi của anh bên ông thầy anh thời truớc… Sau cơn xúc động, anh Thanh Huơng nói tiếp:

“Nếu phải tôi là Thầy thời đó, thì ít nhất tơi cũng tự cho phép trích ra một phần tiền nguời ta gửi tới – coi như « công tác phí » để mua thực phẩm hay mua vé xe búyt chứ tôi không thể sống quá khó khăn như thầy! Nhưng mình là học trò thì phải tu theo ơng thầy thôi… Sau khi đã quen đuờng xá và ngôn ngữ, tôi mời bắt đầu kiếm việc làm để thêm chút phuơng tiện mua rau đậu…”

Theo một số học trò thân tín của thiền sư Nhất Hạnh, có lẽ lý do khiến cho ơng chưa bao giờ lên tiếng cải chính những lời vu khống của một số nguời trong giới truyền thống Việt Nam – một phần có lẽ vì thiền sư đã hành xử theo đúng với bài kệ mà ông nhận đuợc từ ông thầy, là Thiền sư Thanh Quý, khi ông sắp rời Việt Nam năm 1966. Có thể bài kệ đó đã là một thứ kim chỉ nam cho ông trong suốt mấy thập niên qua.

Trước khi thiền sư Nhất Hạnh Mỹ du năm 1966, vị trụ trì chùa Từ Hiếu (là thiền sư Thanh Qúy) đã truyền đăng phó pháp, tặng một bài kệ cho nguời đệ tử lớn  nhất (là thuợng tọa Trừng Quang, pháp hiệu Nhất Hạnh). Sư ông trụ trì Từ Hiếu nghĩ rằng sau mấy tháng Mỹ du, nguời học trị kế vị sẽ trở về để nối nghiệp mình. Nguyên văn bài kệ như sau:

“Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành (Đi theo một hướng sẽ đi mạnh mẽ, sẽ gặp mùa Xuân – Phùng Xuân cũng là Pháp tự của thiền sư  Nhất Hạnh)

Hành đương vô niệm diệc vô tranh (Hành động mà không bị kẹt vào các ý niệm, không vuớng víu vào các tranh chấp)

Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể (Ngọn đèn Tâm nếu tỏa chiếu được những chân lý nguyên sơ huyền diệu)

Diệu pháp đông tây khả tự thành” (Phật pháp nhiệm màu có thể thành tựu khắp trời Âu Á, Đông,Tây)

Nhiều học trò thân tín của Thiền sư Nhất Hạnh đã yêu cầu ông thầy lên tiếng để giải tỏa thị phi, hóa giải những đồn đại vô căn cứ; nhưng lần nào ông cũng chỉ khuyên họ, đại ý là: “ Đừng quan tâm tới dư luận của những nguời muốn phá phách. Nguời ta nói bậy vì không biết, không hiểu mà thôi. Cứ tu học đàng hòang đi, hành xử của thầy trò mình sẽ là câu trả lời hay nhất. Đừng mất thì giờ và năng lực cho những chuyện thị phi đó…!” 

Bài kệ như những lời tiên tri, nay hầu như đã ứng nghiệm vào cuộc đời hoằng pháp của thiền sư Nhất Hạnh:  Hòa bình là hướng đi duy nhất mà ông kiên trì tiến bước, dù con đuờng ông đi không có mấy đồng hành. Ông cũng không bị vuớng víu vào bất kỳ cuộc tranh chấp nào, kể cả những lần ông bị chụp mũ, vu không hay mạ lỵ một cách mạnh mẽ và liên tục. Ngọn đèn Phật pháp thiền sư đã và còn đang tỏa sáng rực rỡ, qua phép tu tập chánh niệm đơn sơ và thích hợp với nhiều lọai nguời. Thiền sư Nhất Hạnh được cả thế giới công nhận là khuôn mặt đại diện Phật giáo đáng kính nể ngang với đức Đạt Lai Lạt Ma của Phật giáo Tây Tạng.

Hàng năm, vào mùa hè, thiền sư  Nhất Hạnh cũng bảo trợ thành công các nhóm thanh niên Do Thái và Palestine qua Làng Mai tu học để hóa giải những hận thù truyền kiếp.  Ông tin tuởng rằng họ sẽ là những hạt mầm tốt cho nền hịa bình lâu dài của Trung Đông sau này. Nguời bi quan cho rằng ông làm việc này cũng khó như vớt muối ra khỏi biển cho nuớc đỡ mặn. Nguời lạc quan lại nghĩ biết đâu khi đủ nhân duyên, các nguời trẻ có tâm hòa bình kia sẽ đủ duyên để họ chấm dứt cuộc tranh chấp đã quá lâu của hai dân tộc Do Thái- Ả Rập.

(Trích báo Thế Kỷ 21- 2007)

Ly dị

Tâm Chánh Tín

Trưa hôm ấy đi chợ Trader Joe’s gần nhà tôi gặp H., một cô bạn thân từ hồi trung học, cả nửa năm qua không có dịp chuyện trò. Trao đổi với nhau vài câu chuyện xong chúng tôi chia tay. Đi được vài bước H. quay lại:

 – Này, tuần trước tôi gặp ông xã bạn trong tiệm ăn. Tôi thấy ông ấy đi đôi giầy mầu hồng. Trông kỳ quá. Sao bạn không nói ông ấy.

 – It’s not my business. Đó không phải là việc của tôi nữa. Ly dị rồi.

 – Hả? Thật không?

 – Thật.

……………………

Tôi đã ly dị ông xã không phải chỉ một lần mà nhiều lần rồi. Nhờ vậy mà tôi mới sống vui vẻ như thế này.

Vợ chồng tôi tính tình rất khác nhau. Chỉ nội việc trang hoàng căn nhà nhỏ xíu của chúng tôi cũng đủ để tranh cãi với nhau mỗi ngày. Đến chuyện áo quần, giầy dép cũng vậy. Tôi đã nhiều phen cảm thấy bối rối trước bạn bè vì cách ăn mặc không giống ai của anh, khi thì áo không “match” với quần, khi thì mầu mè sặc sỡ không thích hợp với tuổi tác, lúc thì không phù hợp với sự kiện đang tham dự (Nếu tôi không cằn nhằn thì anh sẽ chọn mặc quần jeans đến mọi nơi mọi chỗ. Đám cưới, đám ma, đám tiệc hay picnic cũng thế thôi.)

Thế rồi một ngày đẹp trời anh đi mua sắm và mang về một đôi giầy thể thao mầu trắng, bên hông có những vạch uốn lượn mầu hồng phấn. Dưới đáy giầy in hình một trái tim hồng. Trời ạ, giầy đàn bà!

Tôi nhăn mặt:.

 – Sao anh lại đi giầy đàn bà?

 – Tại vì nó vừa chân anh và bán hạ giá 50%.

Tôi im lặng. Bực mình quá. Tim tôi thắt lại. Cái mũ lông ngỗng (down) hôm trước anh đội cũng là mũ cho phụ nữ nhưng tôi còn châm chước được vì ít ra nó có mầu nâu. Đôi giầy mầu hồng này thì không thể chấp nhận được. Cố kiềm chế nhưng tôi vẫn thốt ra: “Người gì mà kỳ cục.” Sự bực bội khiến tôi gần như không thở nổi, ngực và hai vai co cứng lại. Tôi bỏ vào phòng ngủ, mở cửa bước ra mảnh sân nhỏ sau phòng. Ngồi xuống trên chiếc ghế bành tre êm ái, tôi thả lỏng đôi vai cứng nhắc, hai tay buông thư trên đùi, nhắm nhẹ mắt lại và bắt đầu chú ý đến hơi thở.

“Thở vào tôi biết tôi đang giận, thở ra tôi biết tôi đang giận.”

Cứ thế tôi ngồi yên và thở. Chỉ theo dõi hơi thở và nhận diện tâm hành giận trong tôi. Được một lúc thì tâm tôi từ từ lắng dịu lại, cơn giận giảm cường độ, hơi thở bớt nặng nề, hổn hển. Tôi tiếp tục thở.

“Thở vào tôi làm lắng dịu cái giận trong tôi,

   thở ra tôi làm lắng dịu cái giận trong tôi.”

Tôi cứ theo dõi hơi thở như thế thêm một lúc nữa thì tâm tôi hoàn toàn yên ắng, hơi thở trở lại bình thường. Tôi mỉm cười rồi từ từ mở mắt ra. Nhìn lên tàng cây to rợp lá xanh non phía ngoài tường rào, tôi thấy một con chim nhỏ đang bay nhẩy tung tăng từ cành này sang cành khác, miệng chíp chíp như đang ca hát. Con chim sao mà nó tự do và thảnh thơi thế kia. Còn tôi thì cứ mãi vướng bận với những chuyện cỏn con. Làm sao để được tự do như chim? Tôi chợt nghĩ đến cô bạn Th. và câu chuyện chúng tôi trao đổi tuần trước. Ừ nhỉ, phải ly dị thôi! Chắc chắn sẽ hết phiền não, sẽ có tự do. Th. đã chẳng kể rằng sau khi ly dị rồi thì cô ấy không còn bị bực bội vì những tật xấu của ông chồng nữa đấy thôi. Cô ấy còn kể là không những không còn khó chịu và xấu hổ vì tật ăn uống “messy” của chồng cũ mà cô còn thấy “So cute!” khi ông thò tay bốc thức ăn trong bữa tiệc sinh nhật con gái mới đây, trước mặt bao nhiêu là khách khứa. Chính cái tật này 20 năm trước cũng đã là một cái duyên nhỏ, góp phần vào quyết định ly dị của cô.

Nhưng ly dị thế nào để không ai bị tổn thương và mất mát? That’s the question. Đó là vấn đề. Chúng tôi đã sống với nhau mấy chục năm rồi. Mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình nghĩa. Chẳng lẽ lại phải chia tay chỉ vì những chuyện bất như ý nhỏ nhặt hằng ngày? Cuối cùng thì tôi cũng tìm ra một cách giải quyết, không gây khổ đau mà cũng không tốn kém. Tôi sẽ không ly dị anh ngay lập tức. Như vậy thì hấp tấp và vô minh quá. Tôi sẽ “ly dị từng phần”  (partial divorse? step-by-step divorce). Cái gì làm tôi đau khổ thì tôi ly dị. Còn những cái nuôi dưỡng mình như cái tình nghĩa mấy chục năm chẳng hạn mà mình vội vàng ly dị đi thì thật dại dột.

Trước hết tôi ly dị ngay cái đôi giầy mầu hồng kia vì nó đang gây phiền não cho tôi. Tôi coi nó như không dính líu gì tới tôi nữa. Nó không phải “của tôi” và đôi chân mang nó cũng không phải “thuộc về” tôi nữa. Lạ thay, ngay khi tôi quyết định như thế thì đôi giầy hồng lập tức mất hết quyền lực làm khổ tôi. Lòng tôi nhẹ tênh như vừa trút được gánh nặng ngàn cân. Và từ đấy tôi cảm thấy rất thoải mái đi chơi mọi chỗ, đi gặp mọi người cùng chồng khi anh mang đôi giầy ấy (mặc dù tôi chưa thấy chuyện một ông cao niên mang đôi giầy hồng là “cute”).

Nhưng tại sao một đôi giầy lại có thể gây khổ đau hay làm hạnh phúc cho tôi nhỉ? Hóa ra chính tôi đã chắp cánh cho nó làm những việc ấy. Nay tôi được “giải thoát” vì tôi đã không những chỉ ly dị đôi giầy hồng mà cùng với nó tôi đã ly dị cả những “cái duyên” để nó làm khổ tôi, chẳng hạn như cái ý muốn thay đổi ý thích của chồng (của) tôi theo ý mình và cái “ngã” cao vời vợi không muốn bị mọi người chê mình có một ông chồng ăn mặc không có “taste”, v.v…. Những sợi giây vô hình ấy đã ràng buộc tôi vào những đôi giầy, cái áo cái quần của chồng tôi, và vào biết bao nhiêu là những thứ khác nữa thuộc về anh. Chúng cột chặt quá làm tôi mất hết an lạc, tự do, cả anh cũng thế. Thật may mắn tôi đã buông bỏ được chúng phần nào.

Buông bỏ được đôi giầy hồng rồi, chuyện “ly dị” căn phòng bừa bộn của anh và cái phòng tắm dành cho anh và cho khách tôi đã thực hiện dễ như trở bàn tay. Làm xong việc này tôi thấy mình tiết kiệm được bao nhiêu là thời gian và năng lượng. Lợi lạc rõ ràng nhất là tôi có được niềm an lạc trọn vẹn trong những buổi tu học với tăng thân Xóm Dừa mỗi ngày thứ Tư tại nhà . Bởi vì, trước giờ tăng thân đến tôi không còn phải nhìn trước nhìn sau rồi lén lút vào phòng tắm của anh, cất vội những tấm khăn lông đủ màu xanh đỏ tím vàng và thay vào đấy những cái khăn mầu sắc “matching” mà tôi cho là hòa hợp với màu tường. Và, khi nghe tiếng chuông cửa của người bạn đạo đầu tiên tôi không còn phải chạy vội đi đóng cửa phòng anh, sợ rằng ai đó sẽ nhìn thấy cảnh ngổn ngang những va ly, máy hút bụi, quạt máy, máy sưởi, cái thang, v.v…đang sống chung hòa bình với cái giường trên đó chăn, gối, nệm được bọc ngăn nắp trong bộ trải giường ca rô mầu rượu nho “matching” với tấm màn cửa do tôi sắm. Thêm nữa là từ khi tôi ly dị mấy thứ này thì, có lẽ là để đáp lại thiện chí của tôi, anh cũng buông luôn căn phòng khách cho tôi mặc tình bày biện, vẽ vời theo ý mình sao cho thích hợp làm nơi thiền tập cho tăng thân. Vui thật!

Kể từ lần “ly dị” đầu tiên ấy, tôi hiểu ra rằng để có một cuộc sống thảnh thơi, hạnh phúc và hòa hợp với người thân, tôi sẽ phải tiếp tục “thực tập ly dị” bởi vì trong tôi (và trong anh) vẫn còn nhiều thứ cần phải buông bỏ lắm. Và tôi siêng năng thực tập. Tôi tiếp tục ly dị những gì tôi không thích ở anh và để làm được việc ấy tôi đã buông bỏ bớt từng chút, từng chút cái tự ái vớ vẩn, cái tri giác 99% sai lầm, cái tâm mong cầu mọi việc diễn ra thuận theo ý của mình, và cái “ta” to đùng nhưng rất khéo che đậy lấp ló đằng sau tất cả những cái kia. Nhờ thế, cuộc sống của gia đình tôi mỗi ngày có sự hòa hợp hơn, nhiều tiếng cười và ít tiếng cằn nhằn hơn. Tôi và anh đều có thêm không gian và không ai còn phải bị nghẹt thở vì thái độ nắm bắt và chiếm hữu quá độ của người kia và của chính mình.

Cứ ly dị từng bước từng bước như thế, đến một lúc tôi chợt nhận ra vấn đề của vợ chồng tôi không còn to lớn như trước đây tôi vẫn nghĩ. Nó, cái “vấn đề to lớn” ấy, và cái “ta” cũng khá là to lớn của tôi (hình như cả của anh nữa) đã được thu nhỏ lại đến một mức độ thay vì phải dẫn nhau ra “trước vành móng ngựa”, chúng tôi đã có thể ngổi xuống thoải mái trên sa lông để cùng giải quyết trong ôn hòa. Khỏi tốn kém và đỡ nhức đầu biết bao!

Thầy tôi hay nói đùa “Ly dị hay không ly dị, đó không phải là vấn đề.” Qua câu chuyện về đôi giầy hồng của chồng tôi, tôi nghiệm ra thêm điều này: “Ly dị cái gì và ly dị thế nào, đó là vấn đề.”

Sau khi tôi ly dị đôi giầy hồng một thời gian thì chồng tôi chính thức ly dị nó. Khi chị tôi từ Úc sang thăm không có giẩy thể thao để đi bộ anh cho chị mượn đôi giầy hồng. Thấy chị đi vừa vặn và thích nó, anh đã hoan hỉ tặng luôn chị đôi giầy ấy để chị mang về Úc. Vài tuần sau đó, anh rủ tôi đi mua giầy. Hôm ấy chúng tôi đã sắm được một đôi giầy khác cho anh, một đôi giầy thể thao màu trắng, có những đường viền màu xanh lá mạ nõn nà, vừa khít khao chân anh và bán hạ giá 50%. Và, dĩ nhiên nó là giầy đàn bà bởi vì chân anh hẹp bề ngang, đi giầy đàn ông không thoải mái.

…………………….

TRI ÂN

Nhân ngày Tiếp Nối của Sư Ông 11 Tháng 10, 2020

Kính bạch Sư Ông,

Mùa Thu đã có mặt tại California rồi và đang làm dịu lại cái nóng khủng khiếp của mùa Hè trong những ngày qua. Thầy có biết không, cứ mỗi năm khi Thu về là con lại nhớ đến tăng đoàn, lại nhớ đến những khóa tu được tham dự do Thầy hướng dẫn. Con thấy con vô cùng may mắn vì con được làm học trò của Thầy, đã từng theo Thầy leo núi  tu viện Lộc Uyển để ngắm mặt trời mọc, đã được cùng Thầy và tăng đoàn đi thiền hành trên bải biển Santa Barbara, tại khuôn viên trường đại học SanDiego University, và tại công viên Mile Square Park. Đã từng được nghe Thầy bình thơ Lưu Trong Lư, Trịnh Công Sơn, trong thiền đường Thái Bình Dương, được ngồi sau lưng Thầy ngắm nhìn quý Thầy quý Sư Cô niệm kinh. Vì chiến tranh vì hoàn cảnh gia đình con lớn lên đầy thương tích trong thân và tâm. Nhưng phước đức của con còn lớn nên con được Thầy dạy dỗ, được gặp tăng thân dìu dắt, ôm ấp, thương yêu và công đức này con sẽ không bao giờ quên. Nhờ những hạt giống hiểu và thương con được tiếp nhận, cái tâm ốm yếu của con nay đã hồi phục. Nhân ngày tiếp nối của Thầy, con không biết nói gì hơn kính chúc Thầy được thật nhiều sức khỏe để thầy tiếp tục có mặt làm điểm tựa cho chúng con trên con đường tu học. Con xin dâng lên Thầy món quà nhỏ, bài thơ con làm cách đây 15 năm, đây là hoa trái qua sự thực tập chánh niệm của con.  

My heart was crushed into pieces

I mended back

and made it well

My seeds of unhappiness were watered

They spouted into thorns full of anger and hurt

I nursed them back to their original forms

Beautiful flowers full of joys and love

My tears like raindrops embracing the harsh soil

With tender care and nurture

Seeds of understanding begin to germinate

(Tôn nữ Cẩm Hà-Tâm Từ Phúc/Chân Mật Thiện

Chich ngừa Chánh Niệm

Kính bạch Sư Ông,

Con là Tâm Diệu Hỷ
Đối với con, thực tập Chánh niệm giúp mình giảm bớt những lo âu, phiền não, sợ hãi. Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, bức xúc, có chánh niệm thì mình vẫn sống bình an, giống như đã được chích ngừa vaccine đề phòng tật bịnh
Hiện nay, trong khi chưa tìm được vaccine an toàn ngừa Covid-19, con cố gắng thực tập Chánh niệm thường xuyên hơn, nên con cảm thấy đã bớt được phần nào nỗi lo sợ trước cơn đại dịch.
Đó là điều con học hỏi được từ pháp môn của Làng mai.Nay con xin kính dâng lên Sư Ông lòng biết ơn chân thành sau sắc nhất

Khánh Phùng-Tâm Diệu Hỷ

Tháng 10 2020

Ngày tiếp nối, người tiếp nối,

tiếp nối cái gì?

Thưa Sư Ông Thích Nhất Hạnh,

Chỉ còn vài ngày nữa là sang tháng Mười. Đây là tháng mà hằng năm các đệ tử chúng con mừng ngày sinh nhật Sư Ông. Sinh nhật hay còn gọi là Ngày tiếp nối. Riêng con, con rất thích và phục Sư Ông phát minh ra nhiều từ ngữ hay, thay thế cho những chữ dùng thường ngày để nhấn mạnh thêm ý nghĩa của nó. Thí dụ như chữ Ngày Tiếp Nối, trước đây chúng con gọi là ngày sinh nhật. Cũng nhờ có Ngày tiếp nối này mà chúng con có Sư Ông, người nhắc lại giáo pháp của Bụt, dẫn dắt chúng con, làm chúng con hiểu biết hơn những pháp môn mà Bụt đã dùng cả hơn 2500 năm trước.

Phải chăng chữ Tiếp Nối cho con thấy không gì mất đi, không gì tự nhiên có. Có chăng đó chỉ là sự hiển thị ở trạng thái này hay trạng thái nọ, ở hình thái này hay hình thái nọ. Sư Ông đang tiếp nối một vị Phật nào đó trong quá khứ, bây giờ hiện diện cõi đời này. Sư Ông hiện diện để chỉ cho chúng con được thấy giáo pháp Bụt hay biết chừng nào mà chúng con cần tinh khôn nắm lấy nó.

Ngày tiếp nối Sư Ông thật đáng ghi nhớ và trân trọng khiến con lân la ghi nhớ ngày tiếp nối của Bụt Thích Ca Mâu Ni, ngược thời gian những hai mươi lăm thế kỷ trước. Bụt đã tiếp nối ai mà đến thế giới chúng ta và chỉ ra những con đường để nhân loại đi, đi sao mà hạnh phúc và vui vẻ. Trong thế giới, trong từng các quốc gia, từng thời đại hẳn là có rất nhiều Ngày tiếp nối như thế để nhân loại tưởng nhớ đến. Ngoài điều hay cũng có những điều dở, người dở bắt mọi người phải nhớ. Thế nhưng con sẽ không dùng chữ “ngày tiếp nối” cho những gì “dở”. Mặc dù “hay hay dở” nó là có thực, nó là hai mặt của đồng tiền. Nó tương tức lẫn nhau, nhưng chữ Tiếp Nối lại mang tính tích cực thì mình chỉ chọn điều hay người hay để dùng thôi.

Ngày Tiếp Nối đầy ý nghĩa kể từ ngày này 2500 năm về trước nhân loại có Bụt. Từ ngày này 94 năm về trước tại nước Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung có thiền sư Thích Nhất Hạnh. Và từ những ngày kế tiếp chúng con là những người đệ tử của Bụt và của Sư Ông học cách làm gạch nối. Cái gạch nối tiếp nối Sư Ông cho đời con cháu chúng con.

Ngày tiếp nối năm nay 2020, năm mà Sư Ông 94 tuổi trời, sức khỏe suy yếu nhiều làm chúng con thấy Ngày tiếp nối thật là cần thiết và cần điểm tiếp nối mới, càng nhiều điểm tiếp nối càng tốt. Tiếp nối là tiếp nhận và gạch nối những điểm lại với nhau. Chúng con làm được gì nếu mình là tiếp nối của Sư Ông? Vai trò những người con Phật, đệ tử của Sư Ông phải làm gì? Người tiếp nối phải chăng là người luôn tỉnh thức, thực tập những điều Bụt dạy thật giỏi. Hiểu những điều Sư Ông dạy và thực hành?

Mong được làm điểm tiếp nối Sư Ông, con làm gì?

Khi tâm lăng xăng thì thực tập kéo chậm lại những suy nghĩ và hành động để nhìn và ngẫm. Sau ngót mười năm thực hành pháp môn Làng Mai, con đã biết chậm lại. Chậm lại phản hồi bằng lời, chậm lại hành động sau khi tiếp nhận một sự việc gì. Con biết quay lại chiêm nghiệm những điều mình nói hay làm. Nó sai đúng như thế nào. Mình có thể nói đó là chánh niệm hay chánh tư duy, chánh ngữ… “chánh” trong tám lãnh vực của con? Cũng có đôi khi con thấy mình mất chánh niệm, mất mình trong dòng suy nghĩ nào khác. Giật mình và ngay tại điểm vụt mất dòng ý tưởng đó, con kiểm soát lại mình.

Con thực tập…

Tâm chê bai thì lấy tình thương giải hóa. Vì có chánh niệm trong khi làm, nghe, nói…con cũng thấy mình nhạy bén nhiều hơn. Con hay chiêm nghiệm và nhận diện mọi sự việc xung quanh mình. Tính này đã giúp con nhìn thấy cái tốt, cái sai, cái dở của chính mình và của người khác. Người này hay quá khi nói điều này, người kia làm điều hợp với mình, người nọ sao giỏi quá đã nhận xét thật nhanh và chính xác. Và rồi con cũng thấy người này dở điểm này, dở điều kia. Điều này tốt. Nhưng nếu con không tiếp tục chánh niệm thì tính nhanh và nhạy này có thể đưa đến điều sai. Khi con vô tình thốt lời chê bai. Ấy thế là con đang làm một việc không tốt rồi. Thế nhưng nếu mình không chỉ ra cái sai giúp người ta thì mình dở quá. Vì con luôn muốn cùng người tiến bộ mà lấy tình thương chân thật của mình để nói với người đối diện. Hình như phương pháp này có chút hiệu quả. Thoạt đầu tiên chỉ đạt được 1 điểm trong 100. Nhưng lần 2, lần 3… có tiến bộ, người kia đã nghe và tin con hơn. Phương pháp này sẽ được con áp dụng nhiều thêm trên đường thực tập.

Điều trị tâm bực tức dùng phương pháp hiểu và thương. Khi hiểu được, nhìn ra được mặt kia của sự việc là lúc tâm thanh thản trỗi lên. Càng nhiều thấu hiểu càng nhanh giải tỏa tâm bực tức. Khi có một ý kiến đối nghịch với mình, con thường kiếm mặt trái của sự việc. Nếu chưa học cách điều phục cơn giận, con sẽ tung hê và không kiềm giữ sự bực bội. Có thể con quát tháo hay sổ ra những hành động làm cho người đối diện biết là con đang bực. Nay thì không. Con đã giữ được sự im lặng, quay đi để tâm không bực bội thêm, để không làm xấu tình huống lúc đó. Kế đến tìm ra điểm gì đã khiến cho người kia nghĩ vậy. Khi thấy điểm nghịch ngược với mình, càng nhiều điểm thì con càng hiểu lý do và hiểu tâm trạng người kia hơn. Tình thương có thể làm mồi giúp sự hiểu và thương mau bén bắt. Tình thương là mấu chốt làm cho người gần người hơn, ít đối nghịch hơn. Đúng là thế!

Tâm chân thật, được viết ra sau cùng vì nó thật quan trọng đối với con. Nó giúp con vững chãi trong cuộc sống. Khi sống chân thật tâm hồn mình thật là thoải mái, nói điều thật dễ dàng hơn nói điều dối trá. Ghi nhớ điều thật dễ hơn ghi nhớ điều sai sự thật. Khi gặp phải tình huống nói “điều thật” là xúc phạm hay không tốt cho một ai đó thì ta không nói. Không nói không phải là nói dối. Không nói lúc đó có nghĩa là chờ đúng lúc, đúng nơi, và đúng người thì ta vẫn giữ được tính chân thật.

Khi nói điều chân thật ta có thể đưa đến “hiệu quả” hay “hậu quả”. Cả hai hiệu quả (ý tốt), hậu quả (nghĩa xấu) đều được chấp nhận một cách hoan hỉ. Sống chung với người chân thật dễ dàng hơn sống với người quỉ quyệt, dối trá. Tâm chân thật phải chăng là thực tập Bát Chánh Đạo?

Quay trở về với Tiếp Nối, tiếp nối cái gì, con thật ngại ngùng và lúng túng để chỉ rõ ra nó. Thế nhưng con vẫn thấy rõ là lấy tâm lành thiện ra mà sống là một cách tiếp nối. Chọn một mục tiêu để tiếp nối. Cứ một điểm mà mình giữ cho được thì vô hình chung được tất cả. Đúng là mọi sự việc trên cõi đời này nó tương tức và liên quan với nhau mật thiết lắm.

Những điều con viết ra trên đây chỉ để chiêm nghiệm cái “gạch nối” con với Sư Ông đã được chưa? Con đường gạch nối nó sẽ dài dài dài…, không có điểm chấm dứt. Vì cuộc sống là sự biến chuyển từng dây từng phút, nếu dừng lại là mất tất cả.

Nói xa nói gần, nói dài dòng hoặc nói vắn tắt Ngày tiếp nối, Người tiếp nối, và tiếp nối “cái gì” chỉ còn là một cái Tâm. Tâm bản thiện, Tâm chân thật, Tâm an nhiên tự tại, Tâm của thời gian vô thỉ, Tâm của không gian vô chung, Tâm của niết bàn tuyệt đối, và tâm của Bản Môn.

Bụt, Sư Ông, chúng con…tất cả đều là Phật cả!

California, 10/1/2020

Chân Nhã Uyển

Doãn Liên

Tình Thầy

(Tâm Chánh Tín 2020)

Lần đi tụng giới vừa rồi với tăng thân Xóm Dừa tôi thỉnh được một cuốn lịch thư pháp Làng Mai 2019. Vừa về đến nhà là tôi náo nức mở ra, lật từng trang để xem năm nay mình được tặng những thư pháp nào của Thầy.

Tháng 1 “Giờ phút này quí báu, lòng biết ơn tràn dâng”; tháng 2 “Đây là giây phút hạnh phúc”; Tháng 3 “Ngồi cho yên để bắt đầu thấy rõ”. Tháng 4, tháng 5…, tháng 12. Tưởng đã hết, nhưng ô hay sao vẫn còn một trang nữa. Lật ra, tôi ngẩn người ngắm nhìn tấm hình thầy tôi với nụ cười hiền hòa, cặp mắt rực sáng từ bi. Bên dưới tấm hình chỉ hai chữ “Tình Thầy”. Nhìn trang lịch lòng tôi bồi hồi, trào dâng một niềm hạnh phúc và biết ơn.

Tôi chẳng tìm ra được lời nào hoa mỹ để tả cái tình của thầy tôi đối với chúng tôi, những đứa học trò còn rất thơ dại trong đời sống tâm linh, chỉ biết miệt mài lẩn tránh khổ đau đi tìm hạnh phúc mà thường là chẳng biết hạnh phúc đích thực là gì. Tôi chỉ biết là, thầy tôi thương các “con” của thầy lắm. Chẳng thế mà bao năm thầy rong ruổi, kiên trì dậy dỗ chúng tôi từng hơi thở, nụ cười, bước chân.

Tôi và nhiều người cũng giống tôi, không phải là học trò giỏi nên rất hay “quên”. Vì vậy mà trước mỗi buổi giảng những kinh kệ, giáo lý sâu xa của đạo Phật, Thầy luôn luôn nhắc lại những thực tập căn bản. Thầy dậy đi dậy lại không biết bao nhiêu lần về sự mầu nhiệm của hơi thở ý thức, đến nỗi có những người đã nói về Thầy với một chút diễu cợt :”Thầy NH chỉ dậy có mỗi một chuyện thở ra thở vào”. Ngay chính tôi khi mới bước vào pháp môn Làng Mai, chưa “thấm tương chao”, cũng đã có lúc tự hỏi: “Sao Thầy thích chữ “mầu nhiệm” khi nói về hơi thở thế nhi?”. Chỉ sau này khi đã chuyên tâm thực tập tôi mới thấu hiểu được lời Thầy dậy “một hơi thở có ý thức có thể đưa chúng ta đi rất xa trên con đường giải thoát khổ đau”, “Nếu chưa thở được 10 hơi thở chánh niệm thì đừng nói đến chuyện giải thoát, giác ngộ”, và thật sự nếm được hương vị mầu nhiệm ấy.

Tình thương của Thầy tôi tự nhiên, giản dị mà sâu đậm như tình cha mẹ thương con.

Tôi học được từ Thầy tôi không chỉ qua những bài giảng mà có lẽ qua pháp thân của Thầy còn nhiều hơn. Để tôi kể bạn nghe một vài câu chuyện đã để lại trong lòng tôi những cảm xúc dạt dào, sâu đậm. Những chuyện rất đời thường và giản dị thôi.

Một ngày trong khóa tu tại tu viện Lộc Uyển năm ấy, tôi và các bạn trong tăng thân Xóm Dừa và Nụ Hồng được lên cốc của Thầy dùng cơm trưa. Thầy tôi và tất cả đều ngồi trên sàn nhà. Thầy ngồi trong một góc phòng, chúng tôi ngồi chung quanh thành một vòng tròn. Bên cạnh Thầy là một nồi cơm điện nhỏ xíu, trước mặt là một cái khay trên đó có một bát canh và vài đĩa nhỏ thức ăn chay. Sau khi mỉm cười đưa mắt nhìn mọi người và ra hiệu mời mọi người bắt đầu, Thầy tôi từ tốn mở nắp nồi, bới cơm vào bát.  Sau đó, Thầy gắp thức ăn trong một đĩa, cũng từ tốn và cẩn trọng như khi bới cơm. Cứ sau mỗi lần gắp một món bỏ vào bát của mình xong là Thầy đưa đĩa cho người bên cạnh gắp và dạy truyền đi cho những người khác cùng chia sẻ, dù là mỗi chúng tôi đều đã tự lấy cho mình từ nhà ăn một đĩa cơm với thức ăn đầy đủ mang lên. Chúng tôi ngồi ăn trong yên lặng. Tôi cảm nhận sâu sắc sự có mặt của Thầy tôi, của các bạn, của từng miếng cơm trong miệng, và cả mặt trời, mặt trăng, bác nông phu.. trong những cọng rau, miếng đậu. Chưa bao giờ tôi được ăn một bữa cơm ngon như thế, một bữa cơm chan chứa tình thầy, tình bạn. Một bữa cơm của hạnh phúc, thương yêu và biết ơn.

Chúng tôi là những người may mắn nên trong một khóa tu khác, tăng thân chúng tôi lại được lên uống trà trong cốc của Thầy. Hôm ấy có cả nhà văn Doãn Quốc Sỹ cùng đi. Trong căn phòng khách, ngoài tượng Phật , đèn dầu và hoa, trên lò sưởi thì chỉ có một cái bàn trà nhỏ và 2 cái ghế gỗ, một  thấp, một cao. Đám học trò chúng tôi ngồi dưới sàn nhà. Thầy tôi chọn ngồi trên chiếc ghế thấp, dành chiếc ghế cao mời ông Sỹ dù ông từ chối mấy lần. Hình như ông Sỹ hơn Thầy tôi vài tuổi. Tôi học được của Thầy tôi lòng hiếu khách và sự khiêm cung hôm ấy.

Lại có một lần… Thầy tôi ở Làng Mai bên Pháp, cứ hai năm mới cùng tăng đoàn sang Mỹ hướng dẫn các khóa tu một lần. Vì vậy chúng tôi, những học trò của Thầy ở Mỹ, rất “khát” pháp và nhiều lúc cảm thấy bơ vơ vì không có Thầy ở gần để mỗi tuần, mỗi tháng được gặp và trực tiếp học hỏi như các Phật tử khác. Thế nên, trong một buổi “Hỏi- Đáp” cuối khóa tu, có một thiền sinh trẻ đứng lên bộc bạch:

“Thưa Thầy, hai năm Thầy mới sang Mỹ một lần. Trong thời gian giữa 2 lần ấy, không có Thầy chúng con thấy bơ vơ lắm. Chúng con phải làm sao ạ?”

Thầy bảo: “Khi nào cần Thầy thì con cứ gọi “Thầy ơi” là Thầy sẽ “Ơi” và có mặt cho con ngay. Chỉ cần con thở và đi trong chánh niệm là con sẽ thấy Thầy, ngay trong con, không cần tìm đâu cả.” Từ đấy tôi học tìm Thầy tôi không qua hình tướng của Thầy mà qua sự thực tập hơi thở, nụ cười, bước chân ý thức . Bài học này giúp tôi rất nhiều trong việc buông bỏ những  vướng mắc trong cuộc sống, tiếp xúc được với người thân, với tổ tiên, cha mẹ, thầy tổ dù đang ở xa hay đã khuất.  Những tâm trạng cô đơn, bơ vơ từ từ rơi rụng vì tôi đã biết nhìn sâu hơn để thấy sự có mặt của mọi người trong tôi.

Hôm nay là ngày bắt đầu của mùa xuân. Tôi thức dậy sớm khi trời đất còn tinh khôi. Làm cho mình một ly sữa đậu nành nóng với vài lát gừng thơm xong tôi đi ra phòng khách, nơi có tấm cửa kính chạy dài nguyên cả bức tường. Ly sữa ấm trong tay, tôi ngồi trên bồ đoàn nhìn ra sân. Những chậu lan, đào, mai…đang nở rộn ràng quanh tượng Bụt. Mảnh sân nhỏ trong ánh sáng mờ mờ của buổi sớm mai đẹp lạ lùng. Lòng thật bình an, tôi mỉm cười:Buổi sáng

Ly sữa ấm

Thầy ơi!

Ơi!

Lần đầu gặp Thầy

Chân Huyền

Hai chúng tôi, Toàn và Quyên, được gặp mặt Thầy Nhất Hạnh lần đầu tiên vào một buổi sáng mùa Xuân nắng đẹp năm 1982 tại thiền viện Zen Art center, Mount Tremper,thuộc tiểu bang Nữu Ước. Do lá thư đầu tiên tôi bạo gan viết cho thầy, gửi theo địa chỉ nhà sách Lá Bối Paris (Pháp quốc), để xin Thầy cho phép qua rửa chén quết nhà để học Thiền , mà tôi đã được tiếp xúc bằng thư với Thầy, vào cuối năm 1982.

Năm 1982 đó là thời gian tôi rất buồn vì mất một người bạn thân nhất của chúng tôi, coi như bạn tri kỷ của gia đình từ khi di tản qua Canada. Anh Dynamo (tên hiệu anh tự đặt) đã treo cổ tự tử sau khi tới ăn bữa tối cuối cùng với chúng tôi. Anh Dynamo đó, không tỏ ra có dấu hiệu gì chán đời trước khi tự kết liễu cuộc đời. Có thể vì chúng tôi đã quá bận rộn nên vô tình không thăm hỏi anh thường xuyên trong vài năm cuối cùng, Có lẽ cũng vì anh đã để hết thì giờ vào cô bạn mới, nên chúng tôi ít liên lạc như xưa…Có thể vì duyên nghiệp của riêng anh – chia sẻ nỗi đau khổ với bà mẹ, chỉ biết khóc thầm từ khi anh mới ba tuổi. Anh kể đã biết giả vờ ngủ cho mẹ khóc (?). Bao nhiêu nguyên cớ tiềm ẩn khiến một con người vui tính, hoạt bát và năng động như anh đã đi tìm cái chết khi còn thanh xuân!  Một điều khá chắc chắn, là cái chết bất ngờ của anh bạn tôi, đã là một cú “sốc” rất lớn đập mạnh vào tâm thức tôi, vốn đã đang căng thẳng vì những bận rộn quá tải với việc sở, việc nhà.

Chúng tôi chỉ biết trước một ngày trước khi được di tản ra khỏi Saigon, vào đêm ngày 27 tháng 4 năm 1975. Cuộc sống đang êm ả của gia đình với ba con nhỏ từ 1 tới 8 tuổi, bỗng nhiên phải bỏ hết nhà cửa, xe cộ, chỉ còn hai cái va ly loại trung bình, trong đó ngoải quần áo của 5  người, có gần một nửa valy là hình ảnh kỷ niệm và vài cuốn. Chúng tôi may mắn có giấy tờ bảo lãnh của hai bà chị, một sống tại Canada, một tại California, nên trong bao nhiêu cái duyên may mắn, gia đình tôi đã ra khỏi được Saigon đang biến động và sắp mất vào tay Cộng Sản. Chúng tôi được quân đội Mỹ chở máy bay miễn phí qua Guam, rồi sau hai ngày làm thủ tục giấy, tờ, được chở qua trại tỵ nạn Pendleton (gần San Diego, California) vào đêm ngày 01 tháng 5, 1975.

Cuộc sống mới bắt đầu ngày 28 tháng 5 năm đó, khi chúng tôi đáp máy bay Air Canada qua tới phi trường quân sự của tỉnh bang Quebec, xứ Canada.  Sau một tháng làm thủ tục nhập cư và được chính phủ bảo trở cho đi tìm thuê một căn hộ 3 rưỡi (gồm một phòng ngủ, phòng khách và bếp + nhà tắm), chúng tôi bắt đầu làm việc để có thể tự túc tiền nhà và tiền chợ. Từ một gia đình có hai người giúp việc ở Saigon, chúng tôi nay chỉ có hai vợ chồng, phải tự lo mọi chuyện. Đang lái xe chạy khoảng 30 km mỗi giờ ở Saigon, làm việc mỗi ngày chừng 3- 4 tiếng đồng hồ là nhiều nhất, chúng tôi phải tập lái xa mau, khoảng 100 km nếu đi trên xa lộ, và mọi việc chợ búa, cơm nước, tắm giặt cho các con, lo đưa đón chúng đi học và theo dõi bài vở…tất cả đều trông vào bàn tay mình. Sau tám tháng định cư, tôi may mắn trở lại được nghề Dược, nên khoản tài chính đỡ thiếu thốn.  Ông xã tôi đi học, cũng lo làm việc thêm vào cuối tuần, nên chỉ phụ vợ được vài việc nặng trong nhà thôi.

Sau khi mấtbạn, tôi mất ngủ nhiều đêm và có lần đã đọc cuốn Nẻo Vào Thiền Học của Thầy, tôi “đánh liều”, tự giới thiệu về mình và xin phép được qua Paris gặp Thầy học cách thiền rửa chén, quét nhà… Anh xã tôi đã làm việc cho Trường Thanh  Niên Phụng Sự xã hội nhiều năm trước 1975, nên Thầy biết ảnh, nhưng tôi tuy có tới trường đó giúp về kiến thức y dược mấy khóa cho các học viên, tôi chỉ được biết thầy qua tấm hình nhỏ, treo ở chùa Lá (trụ sở của Trường TNPSXH) mà thôi.

Sau khi gửi thư đi vài tuần lễ, tôi thật ngạc nhiên và sung sướng nhận được thư Thầy trả lời.  Sau đó, Thầy đã giữ lời hẹn, thu xếp cho chúng tôi được tới thăm thầy trong ngày làm biếng của khóa tu mùa Xuân 1983, khi thầy tới đó dạy thiền tại tu viện Zen Art Center, thuộc vùng Mount Tremper, tiểu bang Nữu Ước.

(hình lá thư Thầy viết cho Đỗ Quyên Dec 1982)

Trước khi gặp Thầy, tôi không thể hình dung được người tác giả vĩ đại mà hai thập niên qua, tôi từng đọc say mê hầu hết mọi tác phẩm của ông, lại là một vị thầy tu nhỏ bé, đi đứng và nói năng nhỏ nhẹ như vậy. Khi di tản khỏi Saigon trước ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đã bỏ vô valy hai cuốn sách mỏng của LÁ Bối” Nẻo về của Ý và cuốn Tình người – coi như gia tài văn hóa tôi muốn giữ gìn khi lưu lạc qua châu Mỹ!

Tôi đã có ý hơi lo lắng, về chuyện “vỡ mộng” khi sắp được gặp mặt người mà mình rất kính ngưỡng qua các sáng tác, từ thập niên 1960. Chính những mẩu chuyện nhỏ về Phương Bối – nơi tác giả di dưỡng tinh thần thời cuối thập niên 1950, đã vô hình chung hướng dẫn cuộc sống tâm linh cho tôi sau này.

Sau khi được diện kiến thì sự tin tưởng và kính mến vị Thầy tác giả đó, thật sự đã tăng lên gấp nhiều lần chứ không suy giảm. Từ đó, sự nể phục và kính mến Thầy cũng chính là động lực khiến cho tôi quyết định dùng hết thì giờ rảnh của mình vào việc học Phật Pháp và thực tập Chánh Niệm.

Tôi học được từ Thầy ngay trong ngày đầu gặp gỡ đó, thật nhiều điều hay, tưởng như không đếm xuể, và không thể nhớ hết. Nhưng tôi còn nhớ khá rõ cảm giác bình an trong suốt buổi ngồi bên Thầy. Hình như chúng tôi, cả hai vợ chồng, đều đã được năng lượng từ bi của Thầy bao phủ suốt thời gian chúng tôi  được Thầy tiếp chuyện bữa đó, từ 3 giờ chiều tới 9 giờ đêm!

Chúng tôi được Thầy hẹn trước qua thư từ, nên khi tới thiền viện, được đưa ngay vô phòng Thầy Chúng tôi được gặp Thầy Giác Thanh từ chùa Hoa Nghiêm ở DC cũng mới đến thăm Thầy hôm trước. Khi biết chúng tôi đã ăn trưa rồi, Thầy đã nhờ Thầy Giác Thanh đưa chúng tôi ra ngoài mé rừng tập đi “thiền hành”.  Lúc vô phòng thăm thầy, tôi giữ nguyên áo lạnh chứ không cởi ra treo vô mắc như anh xã tôi. Thầy đã để ý, nên khi chúng tôi sắp ra cửa đi bộ, Thầy lấy áo mũ của mình đưa cho tôi, ân cần:  “Chị mặc vô kẻo ngoài núi rừng lạnh đó” Có lẽ vì được “mặc bính” áo mũ của Thầy mà tôi đã lẽo đẽo theo Thầy cho tới ngày nay!

(hình ĐQ trong áo mũ của Thầy)

Sau khi Thầy dùng cơm xong, anh thị giả Andy Cooper của Thầy đã không biết Thầy đang chờ chúng tôi, nên chỉ cho phép chúng tôi vô phòng gặp Thầy lúc gần 3 giờ chiều, “để Thầy nghỉ trưa đã”!

Bữa đó Thầy cũng kể chính anh thị giả người Mỹ này, đã hiểu lầm khi được thấy thầy ăn cơm rất ngon lành trong lần đầu anh dọn cơm thay bánh mì, dù nhà bếp Mỹ nấu cơm nhão như cháo đặc! Ảnh chỉ quan sát thôi, nên đã yêu cầu các thiền viện khác phải nấu cơm nhiều nước cho vừa miệng thầy! Cho tới một bữa kia, có cơm dẻo, không bị nhão, Thầy mới chỉ cho anh “Đây mới là cơm nấu đúng kiểu Việt Nam!” Sáng hôm đó, sau khi được vào phòng, chào hỏi Thầy và ngồi xuống vài phút, thầy đã hỏi thăm ngay “anh chị có mang hình các cháu không?”  Sau những phút hàn huyên đầu tiên với anh xã tôi – người học trò khóa Triết Đông từ năm 1964 tại Phật học đường Nam Việt, và cũng là cộng sự trong trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội từ VN mà Thầy chưa gặp riêng lần nào, thầy quay sang, nhìn vào mắt tôi:  “Chị không cần lo về các cháu nhiều đâu, chúng nó có máu huyết Việt Nam, sẽ không dễ dàng mất gốc, nên không cần lo lắng quá!” Tôi thầm nghĩ: “Sao mình chưa nói gì mà thầy đã đọc được nỗi lo toan của mình? Cùng ngày đó, Thầy đã nhìn ra thói quen ưa đọc sách báo của anh xã tôi, trước khi ra về đã dặn dò: “ Không cần phải đọc nhiều quá!”

Thầy ân cần nhắc thêm tôi: “Hãy thở và lái xe trong giới hạn 55 miles thôi cho an toàn”, bài thực tập đầu tiên này đã giúp tôi cảm thấy vững tâm khi vừa thở vừa vượt qua mấy cái xe vận tải lớn trên xa lộ, không còn vừa lái vừa run như bao lần trước nữa.

Khi trở về Montreal, anh xã tôi trả lời các bạn hỏi thăm về cuộc gặp gỡ Thầy, ảnh đã nói “Sau mấy giờ đồng hồ được gặp Thầy, mình có cảm tưởng như đã được tu vài ba năm!”

Khóa tu đầu tại Làng Hồng (mùa Hè 1984) đã khiến tất cả gia đình tôi thay đổi, trong chiều hướng biết sống hạnh phúc hơn. Gia tài lớn nhất mà chúng tôi để lại cho con cháu, chính là những gì chúng tôi được học và hành qua lời Thầy đã chỉ dạy, bắt đầu từ mùa hè năm đó. Vì Làng Hồng mới thành lập, mở cửa từ hè năm trước, nên mọi thứ đều rất đơn sơ, nhưng có nhiều nét nghệ thuật do anh cả Chơn Lễ phụ Thầy sắp xếp. Mấy bức vách trong thiền đường là đá xếp lên nhau, không đều đặn, nhưng có vài chỗ trang trí rất thiền vị. Tại các khu vườn trúc mới trồng, có những tấm gỗ nhỏ nhắc nhở thiền sinh thực tập với nét chữ rất đẹp của Thầy và anh Chơn Lễ.

Gia đình chúng tôi được ở trong căn phòng mang tên Bằng Lăng, có 5 miếng ván trên để tấm mousse mỏng, kê trên mấy cục đá lớn làm giường… Không Tivi, không tủ lạnh, bữa nào cũng ăn cơm với rau luộc, xì dầu và muối vừng làm chuẩn. Lâu lâu mới có vài miếng đậu hủ. Buổi sáng có bánh mì và peanut butter cùng sữa đậu nành. Các con chúng tôi được theo các anh chị lớn như chị Giao Trinh (con nhà văn Minh Đức Hoài trinh), Thủy (con gái nhà văn Võ Hồng) v.v…dạy giỗ về văn hóa Việt Nam qua các trò chơi và những câu chuyện  cổ tích hấp dẫn. Trên máy bay trở về Canada, con gái 18 tuổi của chúng tôi đã làm cho chúng tôi rất ngạc nhiêu khi cô bé nói: “Sau khi đi chơi mấy thành phố và miền quê các xứ Âu Châu ( Áo, Ý, Thụy Sĩ, Đức và Pháp), nơi con thích nhất là …Làng Hồng! “

Mùa Hè đặc biệt năm 1984 đó đã in những dấu ấn rất rõ nét trong tâm thức cả gia đình…Sau khi trở về nhà, cháu trai Út tự ý yêu cầu mẹ làm một “phòng thở” để cả nhà có thể nguồi thiền với nhau mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ. Chắc chú bé 10 tuổi đó cũng  như mẹ chú, đã có một ấn tượng rất đẹp khi được ngồi thở chung với dân làng Hồng trong các buổi thiền tối, do Sư Ông đích thân thỉnh chuông và hướng dẫn.

Mùa Hè năm đó, cách đây gần 40 năm, có lẽ đã là mối duyên lành – và gia đình chúng tôi đều có được cái Tâm Ban Đầu quý báu, làm vốn liếng cho đời sống tâm linh tốt đẹp và cần thiết suốt cuộc đời. Các khóa tu học với  Thầy và các môn đệ của người sau này, đã giúp cho riêng tôi chuyển đổi được các tâm hành tiêu cực, sống bình an và hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh khó khăn. Ơn nghĩa này, tôi sẽ còn mang theo, mong được tiếp tục theo học với thầy trong những kiếp sau, để có cơ hội được đền đáp phần nào!

(Đầu năm 2021)

                                                                                                 

Comments are closed.